Cầu ngói Thanh Toàn là chiếc cầu vồng bằng gỗ bắc qua một con mương làng Thanh Toàn, thuộc xã Thuỷ Thanh, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên - Huế, cách thành phố Huế khoảng 8 km. Đây là chiếc cầu gỗ được xếp vào loại hiếm và có giá trị nghệ thuật cao nhất trong các loại cầu cổ ở Việt Nam. Cầu được Bộ Văn hoá cấp bằng công nhận là Di tích cấp quốc gia theo Quyết định số 575QÐ/VH ngày 14 tháng 7 năm 1990.
Cầu ngói Thanh Toàn được xây dựng theo lối "thượng gia hạ kiều" (trên nhà, dưới cầu). Cầu dài 43 thước mộc (18,75m), rộng 14 thước mộc (5,82m), chia làm 7 gian, hai bên thân cầu có hai dãy bục gỗ và lan can để ngồi tựa lưng. Trên cầu có mái che, lợp ngói lưu ly. Cầu đầu tiên được xây dựng cách đây hơn hai thế kỷ đã bao lần bị gió bão, lụt lội và chiến tranh tàn phá. Tuy nhiên, sau các lần hư hỏng, nhân dân xã đều chung nhau tu sửa, tôn tạo và gìn giữ.
Chợ quê ngày hội- Cầu ngói Thanh Toàn
Cầu đã được trùng tu, sửa chữa vào các năm 1847, 1906, 1956, 1971. Qua các lần tu sửa, chất liệu gốc của cầu ngói đã có thay đổi như trụ cầu bằng gỗ lim được thay bằng gạch và xi măng, kích thước thu hẹp chiều dài còn 16,85m và rộng là 4,63m
Vào thế kỷ 16, trong số những di dân từ Thanh Hoá theo chúa Nguyễn Hoàng vào Thuận Hoá, có 12 vị tộc trưởng đã dừng chân lập nghiệp ở đây tạo nên 12 họ khai canh của làng Thanh Toàn[3].
Cây cầu là nơi gặp gỡ của dân làng. Cũng là nơi hóng gió, nghỉ ngơi
Cầu được ghi nhận xây vào năm 1776, do một người cháu gái thuộc thế hệ thứ sáu của họ Trần là bà Trần Thị Ðạo đã cúng tiền cho làng xây dựng, để dân làng qua lại được thuận tiện và là nơi cho lữ khách cùng người tha phương tạm dừng chân lỡ bước.
Bà Trần Thị Ðạo là vợ một vị quan cao cấp dưới triều vua Lê Hiển Tông nhưng không có con. Để cầu tự, bà dùng tiền của mình để làm phúc cho dân làng, cho xứ. Bà được dân làng tôn sùng, thờ phụng. Năm 1776, vua Lê Hiển Tông đã ban sắc khen ngợi bà Trần Thị Ðạo và miễn cho làng nhiều loại sưu dịch để họ nhớ đến công ơn và noi theo tấm gương tốt của bà. Trong tờ sắc, có đoạn viết rằng: "Bà Trần Thị Ðạo sinh quán tại làng Thanh Toàn...là người có đức hạnh. Cuộc sống của bà làm cho người người ngưỡng mộ mọi mặt. Bà là người đáng khen ngợi hơn ai hết. Bà đã làm cho làng được ban những ân huệ mà người ta sẽ ghi nhớ mãi..."
Năm 1925, vua Khải Ðịnh cũng ban sắc phong trần cho bà là Dực Bảo Trung Hưng Linh phò và lệnh cho dân lập bàn thờ ngay trên cầu để thờ cúng bà.
Friday, May 8, 2015
Wednesday, May 6, 2015
Chùa Từ Hiếu
Chùa Từ Hiếu hay Tổ đình Từ Hiếu là tên một ngôi chùa ở thôn Dương Xuân Thượng III, xã Thủy Xuân, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên-Huế.
Chùa là một trong những ngôi cổ tự lớn và là một danh lam có tính văn hoá và lịch sử của cố đô Huế.
Năm 1843, sau khi từ chức "Tăng Cang Giác Hoàng Quốc Tự" và trao quyền điều hành chùa Bảo Quốc cho pháp đệ là Nhất Niệm, Hoà thượng Nhất Ðịnh đã đến đây khai sơn, dựng "Thảo Am An Dưỡng" để tịnh tu và nuôi dưỡng mẹ già.
Hoà thượng Nhất Ðịnh nổi tiếng là người con có hiếu, tương truyền có lần mẹ già bị bệnh rất nặng, hàng ngày ông lo thuốc thang nhưng bà vẫn không khỏi. Có người ái ngại khuyên ông nên mua thêm thịt cá để tẩm bổ cho mẹ, có làm được điều đó mới mong bà chóng hồi sức. Nghe xong, mặc thiên hạ đàm tiếu chê bai, thiền sư vẫn chống gậy băng rừng lội bộ xuống chợ cách đó hơn 5 km để mua cá mang về nấu cháo cho mẹ già ăn. Câu chuyện vang đến tai Tự Đức vốn là vị vua rất hiếu thảo với mẹ, vua rất cảm phục trước tấm lòng của sư Nhất Định nên ban cho "Sắc tứ Từ Hiếu tự". Chùa được mang tên Từ Hiếu từ đó. Trong tấm bia ghi lại quá trình xây dựng chùa giải thích:
* Từ: là đức lớn của Phật, nếu không từ thì lấy gì tiếp độ tứ sanh cứu giúp vạn loại.
* Hiếu: là đầu hạnh của Phật, nếu không hiếu thì lấy gì để đạt thông cõi nhiệm bao phủ đất trời.

Cùng với sự đóng góp của Phật tử, vua Tự Đức ban cấp nhiều kinh phí, chùa còn được các vị quan trong cung triều Nguyễn mà nhất là các vị thái giám cúng dường tiền bạc để lo việc thờ tự sau này, năm 1848 Hoà thượng Cương Kỷ bắt đầu xây dựng chùa qui mô hơn và rồi Từ Hiếu trở thành một ngôi chùa lớn.
Năm 1894 Hoà thượng Cương Kỷ tiếp tục trùng tu và kiến thiết toàn cảnh chùa với sự giúp đỡ của vua Thành Thái, giám quan và các Phật tử.

Năm 1931 Hoà thượng Huệ Minh tiếp tục tùng tu và xây hồ bán nguyệt.
Năm 1962 Hoà thượng Chơn Thiệt tiếp tục trùng tu và chỉnh trang toàn cảnh chùa.
Năm 1971, chùa được Thượng toạ Chí Niệm cho trùng tu cửa tam quan, hồ bán nguyệt và những nhà cửa bị hư hỏng.

Chùa Từ Hiếu nằm khuất trong một rừng thông trên một vùng đồi của xã Thủy Xuân. Khuôn viên chùa rộng chừng 8 mẫu, phía trước có khe nước uốn quanh, phong cảnh thơ mộng.
Hồ bán nguyệt
Trước cổng chùa có ngôi tháp cao 3 tầng được xây dựng vào năm 1896 dùng làm nơi tàng trữ kinh tượng theo sắc chỉ của nhà vua. Cổng chùa được xây theo kiểu vòm cuốn, hai tầng có mái che và ngay trước con đường lát gạch để vào chánh điện là một hồ bán nguyệt trồng sen và nuôi cá cảnh. Cấu trúc chùa theo kiểu ba căn hai chái, trước là chính điện thờ Phật, sau là Quảng Hiếu Đường. Ở khu nhà hậu có án thờ Tả quân đô thống Lê Văn Duyệt cùng con ngựa gỗ và thanh đại đao của ông.
Hai bên sân chùa có hai lầu bia để ghi lịch sử xây dựng chùa. Chùa được xây theo kiểu chữ khẩu (口), chính điện ba căn, hai chái, phía trước thờ Phật, phía sau thờ Tổ. Nhà hậu là Quảng Hiếu đường, ở giữa thờ đức thánh quan, bên trái thờ hương linh phật tử tại gia, bên phải thờ các vị Thái giám..., bên tả sân hậu là Tả Lạc Thiên (nhà tăng) và bên hữu là Hữu Ái Nhật (nhà khách).
Lăng mộ Thái giám triều Nguyễn trong khuôn viên chùa
Xung quanh ngôi chùa Từ Hiếu còn có khá nhiều lăng mộ các vị phi tần của các chúa Nguyễn. Do địa thế đẹp, yên tĩnh lại không xa thành phố Huế nên nơi đây là nơi điểm vui chơi dã ngoại của thanh niên Huế vào những ngày nghỉ, ngày lễ. Chùa Từ Hiếu là một trong những ngôi chùa cổ đón khách du lịch trong và ngoài nước đông nhất cố đô Huế.

Các vị Trụ trì
Tổ đình Từ Hiếu do nguyên "Tăng Cang Giác Hoàng Quốc Tự" tức Hoà thượng Nhất Ðịnh khai sơn, chùa trải qua các đời trú trì:
* Hòa Thượng Cương Kỷ.
* Hòa Thượng Huệ Đăng.
* Hòa Thượng Tâm Tịnh.
* Hòa Thượng Huệ Minh.
* Hòa Thượng Chơn Thiệt.
* Thượng Tọa Chí Niệm.
* Thiền sư Nhất Hạnh
Sinh hoạt và tác thành
Năm 1848, chùa tổ chức lễ khánh thành, có mặt tham dự của vua Dực Tông, bà Từ Dũ và các quan đại thần.
Năm 1924, chùa tổ chức Đại Giới Đàn có sự tham dự của vua Khải Định, hoà thượng Tâm Tịnh làm đàn đầu, hoà thượng Huệ Minh làm đàn chủ. Hoà thượng Mật Khế, Viên Quan, Bích Phong, Đôn Hậu là những giới tử xuất thân từ giới đàn này.
Năm 1965, Đại Giới Đàn Vạn Hạnh được tổ chức tại đây.

Qua các đời trú trì, chùa đã trùng khắc và in các kinh văn như: Phật Thuyết Báo Ân Phụng Bồn Kinh, Cao Vương Quán Thế Âm Kinh, Thiền Môn Nhật Tụng, Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa Kinh, Pháp Bảo Đàn kinh, Niệm Phật cầu vãng sanh nghi...
Chùa cũng là nơi trực tiếp hoặc gián tiếp tác thành danh tăng và thiền sư như: Diệu Giác, Hải Thiệu, Tâm Tính, Huệ Minh, Huệ Pháp, Huệ Giác, Viên Giác, Viên Thành, Chơn Thiện, Chơn Như...
Chùa là một trong những ngôi cổ tự lớn và là một danh lam có tính văn hoá và lịch sử của cố đô Huế.
Năm 1843, sau khi từ chức "Tăng Cang Giác Hoàng Quốc Tự" và trao quyền điều hành chùa Bảo Quốc cho pháp đệ là Nhất Niệm, Hoà thượng Nhất Ðịnh đã đến đây khai sơn, dựng "Thảo Am An Dưỡng" để tịnh tu và nuôi dưỡng mẹ già.
Hoà thượng Nhất Ðịnh nổi tiếng là người con có hiếu, tương truyền có lần mẹ già bị bệnh rất nặng, hàng ngày ông lo thuốc thang nhưng bà vẫn không khỏi. Có người ái ngại khuyên ông nên mua thêm thịt cá để tẩm bổ cho mẹ, có làm được điều đó mới mong bà chóng hồi sức. Nghe xong, mặc thiên hạ đàm tiếu chê bai, thiền sư vẫn chống gậy băng rừng lội bộ xuống chợ cách đó hơn 5 km để mua cá mang về nấu cháo cho mẹ già ăn. Câu chuyện vang đến tai Tự Đức vốn là vị vua rất hiếu thảo với mẹ, vua rất cảm phục trước tấm lòng của sư Nhất Định nên ban cho "Sắc tứ Từ Hiếu tự". Chùa được mang tên Từ Hiếu từ đó. Trong tấm bia ghi lại quá trình xây dựng chùa giải thích:
* Từ: là đức lớn của Phật, nếu không từ thì lấy gì tiếp độ tứ sanh cứu giúp vạn loại.
* Hiếu: là đầu hạnh của Phật, nếu không hiếu thì lấy gì để đạt thông cõi nhiệm bao phủ đất trời.
Cùng với sự đóng góp của Phật tử, vua Tự Đức ban cấp nhiều kinh phí, chùa còn được các vị quan trong cung triều Nguyễn mà nhất là các vị thái giám cúng dường tiền bạc để lo việc thờ tự sau này, năm 1848 Hoà thượng Cương Kỷ bắt đầu xây dựng chùa qui mô hơn và rồi Từ Hiếu trở thành một ngôi chùa lớn.
Năm 1894 Hoà thượng Cương Kỷ tiếp tục trùng tu và kiến thiết toàn cảnh chùa với sự giúp đỡ của vua Thành Thái, giám quan và các Phật tử.
Năm 1931 Hoà thượng Huệ Minh tiếp tục tùng tu và xây hồ bán nguyệt.
Năm 1962 Hoà thượng Chơn Thiệt tiếp tục trùng tu và chỉnh trang toàn cảnh chùa.
Năm 1971, chùa được Thượng toạ Chí Niệm cho trùng tu cửa tam quan, hồ bán nguyệt và những nhà cửa bị hư hỏng.
Chùa Từ Hiếu nằm khuất trong một rừng thông trên một vùng đồi của xã Thủy Xuân. Khuôn viên chùa rộng chừng 8 mẫu, phía trước có khe nước uốn quanh, phong cảnh thơ mộng.
Hồ bán nguyệt
Trước cổng chùa có ngôi tháp cao 3 tầng được xây dựng vào năm 1896 dùng làm nơi tàng trữ kinh tượng theo sắc chỉ của nhà vua. Cổng chùa được xây theo kiểu vòm cuốn, hai tầng có mái che và ngay trước con đường lát gạch để vào chánh điện là một hồ bán nguyệt trồng sen và nuôi cá cảnh. Cấu trúc chùa theo kiểu ba căn hai chái, trước là chính điện thờ Phật, sau là Quảng Hiếu Đường. Ở khu nhà hậu có án thờ Tả quân đô thống Lê Văn Duyệt cùng con ngựa gỗ và thanh đại đao của ông.
Hai bên sân chùa có hai lầu bia để ghi lịch sử xây dựng chùa. Chùa được xây theo kiểu chữ khẩu (口), chính điện ba căn, hai chái, phía trước thờ Phật, phía sau thờ Tổ. Nhà hậu là Quảng Hiếu đường, ở giữa thờ đức thánh quan, bên trái thờ hương linh phật tử tại gia, bên phải thờ các vị Thái giám..., bên tả sân hậu là Tả Lạc Thiên (nhà tăng) và bên hữu là Hữu Ái Nhật (nhà khách).
Lăng mộ Thái giám triều Nguyễn trong khuôn viên chùa
Xung quanh ngôi chùa Từ Hiếu còn có khá nhiều lăng mộ các vị phi tần của các chúa Nguyễn. Do địa thế đẹp, yên tĩnh lại không xa thành phố Huế nên nơi đây là nơi điểm vui chơi dã ngoại của thanh niên Huế vào những ngày nghỉ, ngày lễ. Chùa Từ Hiếu là một trong những ngôi chùa cổ đón khách du lịch trong và ngoài nước đông nhất cố đô Huế.
Các vị Trụ trì
Tổ đình Từ Hiếu do nguyên "Tăng Cang Giác Hoàng Quốc Tự" tức Hoà thượng Nhất Ðịnh khai sơn, chùa trải qua các đời trú trì:
* Hòa Thượng Cương Kỷ.
* Hòa Thượng Huệ Đăng.
* Hòa Thượng Tâm Tịnh.
* Hòa Thượng Huệ Minh.
* Hòa Thượng Chơn Thiệt.
* Thượng Tọa Chí Niệm.
* Thiền sư Nhất Hạnh
Sinh hoạt và tác thành
Năm 1848, chùa tổ chức lễ khánh thành, có mặt tham dự của vua Dực Tông, bà Từ Dũ và các quan đại thần.
Năm 1924, chùa tổ chức Đại Giới Đàn có sự tham dự của vua Khải Định, hoà thượng Tâm Tịnh làm đàn đầu, hoà thượng Huệ Minh làm đàn chủ. Hoà thượng Mật Khế, Viên Quan, Bích Phong, Đôn Hậu là những giới tử xuất thân từ giới đàn này.
Năm 1965, Đại Giới Đàn Vạn Hạnh được tổ chức tại đây.
Qua các đời trú trì, chùa đã trùng khắc và in các kinh văn như: Phật Thuyết Báo Ân Phụng Bồn Kinh, Cao Vương Quán Thế Âm Kinh, Thiền Môn Nhật Tụng, Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa Kinh, Pháp Bảo Đàn kinh, Niệm Phật cầu vãng sanh nghi...
Chùa cũng là nơi trực tiếp hoặc gián tiếp tác thành danh tăng và thiền sư như: Diệu Giác, Hải Thiệu, Tâm Tính, Huệ Minh, Huệ Pháp, Huệ Giác, Viên Giác, Viên Thành, Chơn Thiện, Chơn Như...
Sunday, May 3, 2015
Theo dấu tích vương triều Tây Sơn: Ẩn trong chùa chiền
Du Lịch Huế - Bên cạnh núi Bân đã được đầu tư, tôn tạo, dấu tích vương triều Tây Sơn được sử sách chép lại ở Huế hiện nay là các ngôi chùa ở vùng tây nam kinh thành.
Theo Đại Nam thực lục, chùa Báo Quốc trên đồi Hàm Long dưới thời Tây Sơn được trưng dụng làm kho muối. Dư địa chí Thừa Thiên-Huế cho biết chùa Báo Quốc tọa lạc trên đồi Hàm Long trên đất xưa gọi là làng Thụy Lôi, gần với xóm Lịch Đợi. Từ đây nhìn xuống hướng đông là đường Điện Biên Phủ hiện nay (con đường dẫn lên đàn Nam Giao) và nhìn về hướng bắc là ga xe lửa. Chùa do Hòa thượng Giác Phong, người Quảng Đông (Trung Quốc), khai sơn vào cuối thế kỷ 17 dưới đời vua Lê Dụ Tông và đặt tên là Hàm Long tự. Sau đó Võ vương Nguyễn Phúc Khoát ban sắc tứ Báo Quốc tự vào năm 1747. Hiện vẫn còn tấm biển thếp vàng và những bức liễn từ thời ấy. Thời Tây Sơn, chùa bị sử dụng làm công xưởng.
Sử sách triều Nguyễn và cả tư liệu của chùa hiện nay không có ghi chép gì nhiều về thời gian nhà Tây Sơn trưng dụng chùa trong hoàn cảnh như thế nào và vì sao, ngoài vài dòng vắn tắt trong Đại Nam thực lục.
Đến năm 1808, để báo hiếu mẹ là Hiếu Khương Hoàng Thái hậu, vua Gia Long trùng tu chùa, xây tam quan và đúc một đại hồng chung nặng 826 cân, cao 1,4m, đường kính 1,2m. Vua đặt tên là Thiên Thọ tự, nhưng về sau vì lăng Gia Long cũng gọi là Thiên Thọ lăng nên vua Minh Mạng đổi lại tên như cũ. Vua Minh Mạng trùng tu chùa vào năm 1824 và vua Tự Đức góp phần tôn tạo vào năm 1858. Khu mộ tháp có tháp tổ Giác Phong và các vị kế thế như Phổ Tịnh, Viên Giác, Diệu Giác.
Hiện nay, chùa Báo Quốc là một ngôi chùa cổ có cảnh quan rất đẹp, với sân vườn rộng. Dưới chân núi có giếng Hàm Long, nước rất trong, tương truyền trước đây nước giếng chỉ để cho vua dùng.
Đến chùa Thiền Lâm
Dọc theo tuyến đường Điện Biên Phủ ngược lên dốc Nam Giao, trên dãy Long Sơn (núi rồng) còn có chùa Thiền Lâm.
Theo Lịch sử Phật giáo xứ Huế, đất Thiền Lâm ngày xưa, vào đời các chúa, từ Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) kéo dài cho đến đời Tây Sơn (1777-1801), còn rất rộng; theo địa hình hiện tại là từ trước chùa Từ Đàm, kéo theo đường Nam Giao cựu lộ và qua cả mấy vùng từ chùa Vạn Phước kéo lên cho tận đàn Nam Giao. Trong sách Hải ngoại kỷ sự (viết năm 1695), hòa thượng Thạch Liêm tả cảnh chùa Thiền Lâm như sau: “Đi quanh hai ba lớp núi, nghe trong rừng tre có tiếng trống chuông”... hay: “Chùa dựng đầu cầu cao chất ngất” với “Lối tiều quanh núi khi mờ tỏ, lều cỏ ven đồi khoảng hở liền”.
Chùa Thiền Lâm do ngài Khắc Huyền khai sơn để hoằng truyền phái Tào Động, lúc này đã có Quả Hoằng Quốc sư kiêm nhiệm. Bia tháp tổ Khắc Huyền đề “Khai sơn Thiền Lâm viện”. Vào năm 1695, chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) và Hòa thượng Thạch Liêm khai đại giới đàn Thuận Hóa ở đây, và từ năm đó về sau chùa Thiền Lâm trở thành một thiền viện lớn. Cho đến thời Cảnh Thịnh, Bùi Đắc Tuyên đã chiếm dụng chùa làm phủ.
Sau khi vua Quang Trung băng hà, Bùi Đắc Tuyên được thăng chức Thái sư đã chuyên quyền gây chia rẽ nội bộ hoàng tộc của triều Tây Sơn. Lúc này, Điện tiền tướng quân Võ Văn Dũng được thăng chức Tư đồ và được phong từ tước Quận công lên Quốc công, có thế lực rất mạnh. Ông đã đưa quân bí mật bao vây chùa Thiền Lâm bắt Bùi Đắc Tuyên. Nhưng đêm ấy Bùi Đắc Tuyên ngủ lại trong cung nên Võ Văn Dũng xông thẳng vào cung yêu cầu vua Cảnh Thịnh giao người. Trước thế không thể ngăn cản, vua Cảnh Thịnh đành phải giao nộp Bùi Đắc Tuyên. Sau đó Võ Văn Dũng còn cho người vào Qui Nhơn bắt Bùi Ðắc Trụ (con Bùi Đắc Tuyên) đang giữ việc quân ở nơi ấy, một mặt giả chiếu ra Bắc Hà bắt luôn Ngô Văn Sở.
Sau khi bắt hết phe đảng Bùi Đắc Tuyên, Võ Văn Dũng đem nhốt vào cũi dìm xuống sông cho đến chết (1795). Sách Hoàng Lê nhất thống chí thuật lại chuyện này như sau: "(Võ Văn) Dũng đến nhà trạm Hoàng Giang, gặp trung thư lệnh là Trần Văn Kỷ phạm tội bị đày ở đó. Dũng cùng ngủ đêm với Kỷ, Kỷ bèn nói với Dũng rằng: "Quan thái sư (chỉ Đắc Tuyên) chức vị đã cao tột bậc, trong tay nắm quyền làm oai làm phúc, lại đẩy ông ra ngoài, nếu có sự chẳng lợi cho nhà nước, các ông phỏng còn giữ được đầu chăng? Bây giờ chẳng sớm liệu đi, sau này ăn năn sao kịp?". Dũng vốn tin và trọng Văn Kỷ, bèn cho lời Kỷ là phải. Hôm sau, Dũng đem quân bản bộ gấp đường quay về, hợp mưu với Thái bảo Hóa, bắt phe đảng Đắc Tuyên bỏ ngục; lại sai người vào Qui Nhơn bắt Đắc Trụ và sai Đô đốc Hài ra thành Thăng Long lập mẹo bắt Ngô Văn Sở đưa về, rồi thêu dệt thành tội trạng làm phản mà đem dìm xuống nước cho chết hết. Quang Toản không thể ngăn chặn nổi, đành chỉ khóc lóc mà thôi".
Sách Đại Nam nhất thống chí, chép về giai đoạn chùa Thiền Lâm bị Bùi Đắc Tuyên chiếm dụng như sau: Tương truyền chùa do Thạch Liêm hòa thượng dựng (đoạn này Đại Nam nhất thống chí chưa chính xác, vì theo sách Hải ngoại kỷ sự của hòa thượng Thạch Liêm, khi ông đến đây chùa đã có từ trước, do Hòa thượng Khắc Huyền khai sơn, như đã dẫn ở trên). Sau Bùi Đắc Tuyên thái sư triều ngụy Tây dùng làm nhà ở, Đắc Tuyên bị hại, người dân trong ấp nhân nền cũ chữa lại, đến khoảng đời Gia Long bản triều, Thừa Thiên Cao hoàng hậu bỏ tiền ra sửa lại.
Ngày nay, chùa Báo Quốc và chùa Thiền Lâm đều đã được các thế hệ tiếp nối trùng tu tôn tạo lại, trở thành hai ngôi chùa lớn của Huế. Tuy nhiên, ít hai biết rằng nơi đây đã từng ghi dấu của vương triều Tây Sơn.
Theo Đại Nam thực lục, chùa Báo Quốc trên đồi Hàm Long dưới thời Tây Sơn được trưng dụng làm kho muối. Dư địa chí Thừa Thiên-Huế cho biết chùa Báo Quốc tọa lạc trên đồi Hàm Long trên đất xưa gọi là làng Thụy Lôi, gần với xóm Lịch Đợi. Từ đây nhìn xuống hướng đông là đường Điện Biên Phủ hiện nay (con đường dẫn lên đàn Nam Giao) và nhìn về hướng bắc là ga xe lửa. Chùa do Hòa thượng Giác Phong, người Quảng Đông (Trung Quốc), khai sơn vào cuối thế kỷ 17 dưới đời vua Lê Dụ Tông và đặt tên là Hàm Long tự. Sau đó Võ vương Nguyễn Phúc Khoát ban sắc tứ Báo Quốc tự vào năm 1747. Hiện vẫn còn tấm biển thếp vàng và những bức liễn từ thời ấy. Thời Tây Sơn, chùa bị sử dụng làm công xưởng.
Sử sách triều Nguyễn và cả tư liệu của chùa hiện nay không có ghi chép gì nhiều về thời gian nhà Tây Sơn trưng dụng chùa trong hoàn cảnh như thế nào và vì sao, ngoài vài dòng vắn tắt trong Đại Nam thực lục.
Đến năm 1808, để báo hiếu mẹ là Hiếu Khương Hoàng Thái hậu, vua Gia Long trùng tu chùa, xây tam quan và đúc một đại hồng chung nặng 826 cân, cao 1,4m, đường kính 1,2m. Vua đặt tên là Thiên Thọ tự, nhưng về sau vì lăng Gia Long cũng gọi là Thiên Thọ lăng nên vua Minh Mạng đổi lại tên như cũ. Vua Minh Mạng trùng tu chùa vào năm 1824 và vua Tự Đức góp phần tôn tạo vào năm 1858. Khu mộ tháp có tháp tổ Giác Phong và các vị kế thế như Phổ Tịnh, Viên Giác, Diệu Giác.
Hiện nay, chùa Báo Quốc là một ngôi chùa cổ có cảnh quan rất đẹp, với sân vườn rộng. Dưới chân núi có giếng Hàm Long, nước rất trong, tương truyền trước đây nước giếng chỉ để cho vua dùng.
Đến chùa Thiền Lâm
Dọc theo tuyến đường Điện Biên Phủ ngược lên dốc Nam Giao, trên dãy Long Sơn (núi rồng) còn có chùa Thiền Lâm.
Theo Lịch sử Phật giáo xứ Huế, đất Thiền Lâm ngày xưa, vào đời các chúa, từ Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) kéo dài cho đến đời Tây Sơn (1777-1801), còn rất rộng; theo địa hình hiện tại là từ trước chùa Từ Đàm, kéo theo đường Nam Giao cựu lộ và qua cả mấy vùng từ chùa Vạn Phước kéo lên cho tận đàn Nam Giao. Trong sách Hải ngoại kỷ sự (viết năm 1695), hòa thượng Thạch Liêm tả cảnh chùa Thiền Lâm như sau: “Đi quanh hai ba lớp núi, nghe trong rừng tre có tiếng trống chuông”... hay: “Chùa dựng đầu cầu cao chất ngất” với “Lối tiều quanh núi khi mờ tỏ, lều cỏ ven đồi khoảng hở liền”.
Chùa Thiền Lâm do ngài Khắc Huyền khai sơn để hoằng truyền phái Tào Động, lúc này đã có Quả Hoằng Quốc sư kiêm nhiệm. Bia tháp tổ Khắc Huyền đề “Khai sơn Thiền Lâm viện”. Vào năm 1695, chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) và Hòa thượng Thạch Liêm khai đại giới đàn Thuận Hóa ở đây, và từ năm đó về sau chùa Thiền Lâm trở thành một thiền viện lớn. Cho đến thời Cảnh Thịnh, Bùi Đắc Tuyên đã chiếm dụng chùa làm phủ.
Sau khi vua Quang Trung băng hà, Bùi Đắc Tuyên được thăng chức Thái sư đã chuyên quyền gây chia rẽ nội bộ hoàng tộc của triều Tây Sơn. Lúc này, Điện tiền tướng quân Võ Văn Dũng được thăng chức Tư đồ và được phong từ tước Quận công lên Quốc công, có thế lực rất mạnh. Ông đã đưa quân bí mật bao vây chùa Thiền Lâm bắt Bùi Đắc Tuyên. Nhưng đêm ấy Bùi Đắc Tuyên ngủ lại trong cung nên Võ Văn Dũng xông thẳng vào cung yêu cầu vua Cảnh Thịnh giao người. Trước thế không thể ngăn cản, vua Cảnh Thịnh đành phải giao nộp Bùi Đắc Tuyên. Sau đó Võ Văn Dũng còn cho người vào Qui Nhơn bắt Bùi Ðắc Trụ (con Bùi Đắc Tuyên) đang giữ việc quân ở nơi ấy, một mặt giả chiếu ra Bắc Hà bắt luôn Ngô Văn Sở.
Sau khi bắt hết phe đảng Bùi Đắc Tuyên, Võ Văn Dũng đem nhốt vào cũi dìm xuống sông cho đến chết (1795). Sách Hoàng Lê nhất thống chí thuật lại chuyện này như sau: "(Võ Văn) Dũng đến nhà trạm Hoàng Giang, gặp trung thư lệnh là Trần Văn Kỷ phạm tội bị đày ở đó. Dũng cùng ngủ đêm với Kỷ, Kỷ bèn nói với Dũng rằng: "Quan thái sư (chỉ Đắc Tuyên) chức vị đã cao tột bậc, trong tay nắm quyền làm oai làm phúc, lại đẩy ông ra ngoài, nếu có sự chẳng lợi cho nhà nước, các ông phỏng còn giữ được đầu chăng? Bây giờ chẳng sớm liệu đi, sau này ăn năn sao kịp?". Dũng vốn tin và trọng Văn Kỷ, bèn cho lời Kỷ là phải. Hôm sau, Dũng đem quân bản bộ gấp đường quay về, hợp mưu với Thái bảo Hóa, bắt phe đảng Đắc Tuyên bỏ ngục; lại sai người vào Qui Nhơn bắt Đắc Trụ và sai Đô đốc Hài ra thành Thăng Long lập mẹo bắt Ngô Văn Sở đưa về, rồi thêu dệt thành tội trạng làm phản mà đem dìm xuống nước cho chết hết. Quang Toản không thể ngăn chặn nổi, đành chỉ khóc lóc mà thôi".
Sách Đại Nam nhất thống chí, chép về giai đoạn chùa Thiền Lâm bị Bùi Đắc Tuyên chiếm dụng như sau: Tương truyền chùa do Thạch Liêm hòa thượng dựng (đoạn này Đại Nam nhất thống chí chưa chính xác, vì theo sách Hải ngoại kỷ sự của hòa thượng Thạch Liêm, khi ông đến đây chùa đã có từ trước, do Hòa thượng Khắc Huyền khai sơn, như đã dẫn ở trên). Sau Bùi Đắc Tuyên thái sư triều ngụy Tây dùng làm nhà ở, Đắc Tuyên bị hại, người dân trong ấp nhân nền cũ chữa lại, đến khoảng đời Gia Long bản triều, Thừa Thiên Cao hoàng hậu bỏ tiền ra sửa lại.
Ngày nay, chùa Báo Quốc và chùa Thiền Lâm đều đã được các thế hệ tiếp nối trùng tu tôn tạo lại, trở thành hai ngôi chùa lớn của Huế. Tuy nhiên, ít hai biết rằng nơi đây đã từng ghi dấu của vương triều Tây Sơn.
Tinh khiết Thánh Duyên Quốc Tự chốn cố đô
Du Lịch Huế - Cách thành phố Huế khoảng 50km về phía đông nam có một ngôi Cổ tự. Đây là một trong ba ngôi quốc tự ở đất kinh kỳ (hai ngôi chùa khác đó là Linh Mụ và Diệu Đế)
Nay chùa đã được công nhận là một di tích cấp quốc gia. Nơi đây, tinh khiết, trong trẻo gần như tuyệt đối của một vùng trời, nước và đảo hoang sơ, ít dấu chân người.
Thắng tích bên phá Tam giang
Quốc tự mang tên Thánh Duyên. Chùa toạ lạc ở Tuý Vân sơn, cổng chùa quay về hướng Đông Nam, ngày trước thuộc phường Đông Am, tổng Diêm Trường, huyện Phú Lộc, phủ Thừa Thiên; nay là làng Hiền Vân, xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc, TT Huế.
Túy Vân sơn còn có tên gọi khác là Mỹ Am sơn hay núi Mũi Am - mũi đất nằm gần phá Cầu Hai, nơi tiếp giáp với cửa biển Tư Hiền( ngày xưa có tên khác là Tư Dung).

Để đến được với chùa, từ phía Bắc có thể men theo Quốc lộ 49b hướng đi từ Huế về Thuận An rồi theo đường ven biển về đến chùa, cũng có thể từ Quốc lộ 1A rẽ hướng cầu Trường Hà rồi cũng theo Quốc lộ 49b.
Chùa Thánh Duyên cũ do chúa Nguyễn Phúc Chu (Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng Đế năm 1691) lập nên.
Mùa thu năm 1836, Vua Minh Mạng hạ chỉ cho đào móng, xây chùa mới trên di tích cũ, và đặt tên là Thánh Duyên và xây thêm gác Đại Từ và Tháp Điều Ngự. Chùa có tên là Thánh Duyên vì: “Thánh tức thị Phật, Phật tức thị Thánh, hữu thị Thánh phương khai Phật pháp chi sùng thâm; Duyên bổn thị nhân, nhân bổn thị duyên, hữu thị duyên nãi khuếch thiện nhân chi quảng bị” (Thánh tức là Phật, Phật tức là Thánh, bởi có thánh hiền mới khai tỏ Phật pháp thâm sâu; Duyên vốn là nhân, nhân vốn là duyên, hễ có duyên tốt mới chuyển hoá nhân lành rộng lớn). Đến năm đầu năm 1837 thì công việc trùng tu hoàn thành.
Tổng thể công trình chùa Thánh Duyên theo bố cục Chùa – gác – tháp, bố cục này khác hẳn với chùa Thiên Mụ (tháp rồi mới đến chùa). Bố cục này thể hiện tư tưởng Tam giáo đồng nguyên trong kiến trúc Phật giáo.
Các công trình kiến trúc cứ cao dần theo thế núi, những bậc cấp đi lên chùa do vậy trở thành những con đường nhỏ uốn mình dưới những rặng thông cổ thụ. Tuy nhiên, du khách lại không thấy các công trình này riêng lẻ mà là cảm giác nối tiếp nhau, tưởng chừng như tất cả đều nằm trong hệ thống trật tự, hài hoà theo quy luật phong thuỷ.
Chính điện thờ Phật là một ngôi nhà rường 3 gian 2 trái, cũng được kiến trúc hai tầng và mái lợp ngói liệt theo kiểu trùng thiềm điệp ốc.
Cách thờ tự ở chùa Thánh Duyên có tính cách đặc thù, không trình bày theo truyền thống chùa Huế. Gian chính ở giữa thờ Tam thế Phật: quá khứ, hiện tại và vị lai; phía trước thấp hơn bàn thờ Phật là bàn thờ bài vị vua Minh Mạng; hai gian tả hữu lại có những bàn thờ ở trong cùng và ở bên trước. Hai bên có hai dãy sập để tôn trí thờ Thập Điện Minh vương, mỗi bên gần sát vách thờ 5 tượng; tiếp đến vào phía trong thờ 2 dãy tượng thập bát La Hán, mỗi bên 9 tượng. Dãy bên trái có tượng Bồ đề đạt ma toạ thiền, đối qua bên phải là tượng Địa Tạng ngồi trên con sư tử xanh.
Gác Đại Từ là công trình được xây dựng theo lối nhà rường ở Huế. Gác được chia làm 3 gian: gian giữa thờ Phật, gian bên phải thờ đức Quan Âm và gian bên trái thờ Bồ tát Đại Thế Chí.
Tháp Điều Ngự là công trình cao nhất trong tổng thể kiến trúc Chùa Thánh Duyên. Tháp nằm trên một gò đất cao, tháp cao khoảng 13m, tháp có ba tầng, tháp có lối kiến trúc đế hình vuông. Mỗi tầng của tháp đều có lan cang và ba của vòm.
Ứng trên tầng hai và tầng ba nhìn ra bốn phía có thể thấy toàn cảnh không gian bên dưới là làng mạc, đầm phá, núi non, biển cả, cảm giác như toàn bộ đất trời đều nằm gọn trong lòng bàn tay, thật là một danh thắng hiếm hoi của đất nước. Phía sau Tháp Điều Ngự là Đình Tiến Sảng. Đình Tiến Sảng trước hết là để nghỉ ngơi, hóng gió mát từ ngoài biển khơi, sau đó là để tĩnh tâm.
Tổng thể công trình chùa Thánh Duyên và Túy Vân Sơn này đã được vua Thiệu Trị xếp hạng thứ 9 trong 20 thắng cảnh đất Kinh kỳ với tên gọi là Vân Sơn Thắng Tích.
Chùa Thánh Duyên hiện vẫn còn giữ lại những hiện vật có giá trị văn hóa và lịch sử cao. Trong đó đặc biệt có 2 tấm bia: 1 tấm bia được đặt trong chùa là tấm “Ngự chế Thánh Duyên tự chiêm lễ” của vua Minh Mạng, nói về việc vua tuần du Mỹ Am sơn năm 1835; tấm thứ hai là tấm bia được đặt ở phía tả cổng chùa, là tấm bia của vua Thiệu Trị, dựng vào năm 1841, có khắc bài “Vân Sơn Thắng Tích”.
Tại đây còn đến gần 70 pho tượng đồng, đặc biệt là bộ 18 tượng La Hán với nét điêu khắc tuyệt vời thể hiện nghệ thuật đúc tượng của thế kỷ XIX. Chùa được xếp hạng di tích quốc gia vào năm 2006.
Cần bàn tay du lịch
Bao năm qua, ngôi chùa vẫn trầm mặc lặng yên với thời gian, vẫn hấp dẫn bước chân của nhiều lữ khách. Tuy nhiên vấn đề khai thác du lịch từ khu di tích này hầu như là không có. Theo lời của Ông Hoàng Văn Cầu( phó chủ tịch xã Vinh Hiền) cho hay: “Du lịch ở đây nhiều năm qua là dạng du lịch tự do.” Nói rõ ra là du lịch tự phát, tự đến và tự đi. Khách du lịch đến với Chùa Thánh Duyên trong mỗi mùa hè khá nhiều tuy nhiên đa phần đi theo dạng gia đình và các nhóm thanh niên từ thành phố có sở thích khám phá.
Họ lên thăm chùa Thánh Duyên xong lại ra biển Vinh Hiền để nghỉ ngơi, thưởng thức hải sản cũng như tắm biển. Dạng du lịch này lại không đem đến hiệu quả kinh tế cho địa phương.
Các công ty du lịch trên địa bàn tỉnh cỏ vẻ như lờ đi Thánh Duyên. Ông Nguyễn Văn Khuyến ( cán bộ thông tin văn hóa xã Vinh Hiền) cho biết, xã đã kêu gọi đầu tư du lịch, nhưng đã ba năm vẫn chưa triển khai được. Nguyên nhân của việc này là do nguồn ngân sách của địa phương không đáp ứng được yêu cầu trong xây dựng các hạng mục du lịch.
ặc biệt là con đường từ quốc lộ 49b vào Chùa Thánh Duyên, nhiều năm qua xã đang huy động nguồn vốn để nâng cấp, mở đường cho việc đi lại thuận lợi hơn nhưng vẫn chưa thực hiện được. Tuy còn có những khó khăn nhưng Vinh Hiền cũng có những thuận lợi nhất định để khai thác du lịch từ Chùa Thánh Duyên cũng như Biển Vinh Hiền (một bãi biển được nhiều người đánh giá là đẹp và sạch, cách chùa Thánh Duyên khoảng 1km).
Cuối năm 2007, cầu Tư Hiền được khánh thành đưa vào sử dụng, đây là cây cầu nối liền hai xã Vinh Hiền và Lộc Bình đồng thời nối thông QL49B ven biển với QL1A, đặc biệt khi mũi Chân Mây Tây được khai thông sẽ mở ra hướng phát triển mới cho khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô và của cả tỉnh Thừa Thiên - Huế, nối liền Vinh Hiền với tam giác du lịch Lăng Cô – Cảnh Dương – Bạch Mã, đây là điều kiện thuận lợi để kết nối các tour du lịch mới.
Chùa Thánh Duyên nằm ngay bên Tam Giang Cầu Hai, các tour du lịch khám phá đầm phá Tam Giang cũng có thể kết hợp tham quan thắng tích bên cạnh đầm phá. Chùa Thánh Duyên có thể là chốn dừng chân nghỉ ngơi sau những giờ phút lênh đênh trên phá Tam Giang.
Thiên Huy
Nay chùa đã được công nhận là một di tích cấp quốc gia. Nơi đây, tinh khiết, trong trẻo gần như tuyệt đối của một vùng trời, nước và đảo hoang sơ, ít dấu chân người.
Thắng tích bên phá Tam giang
Quốc tự mang tên Thánh Duyên. Chùa toạ lạc ở Tuý Vân sơn, cổng chùa quay về hướng Đông Nam, ngày trước thuộc phường Đông Am, tổng Diêm Trường, huyện Phú Lộc, phủ Thừa Thiên; nay là làng Hiền Vân, xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc, TT Huế.
Túy Vân sơn còn có tên gọi khác là Mỹ Am sơn hay núi Mũi Am - mũi đất nằm gần phá Cầu Hai, nơi tiếp giáp với cửa biển Tư Hiền( ngày xưa có tên khác là Tư Dung).
Để đến được với chùa, từ phía Bắc có thể men theo Quốc lộ 49b hướng đi từ Huế về Thuận An rồi theo đường ven biển về đến chùa, cũng có thể từ Quốc lộ 1A rẽ hướng cầu Trường Hà rồi cũng theo Quốc lộ 49b.
Chùa Thánh Duyên cũ do chúa Nguyễn Phúc Chu (Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng Đế năm 1691) lập nên.
Mùa thu năm 1836, Vua Minh Mạng hạ chỉ cho đào móng, xây chùa mới trên di tích cũ, và đặt tên là Thánh Duyên và xây thêm gác Đại Từ và Tháp Điều Ngự. Chùa có tên là Thánh Duyên vì: “Thánh tức thị Phật, Phật tức thị Thánh, hữu thị Thánh phương khai Phật pháp chi sùng thâm; Duyên bổn thị nhân, nhân bổn thị duyên, hữu thị duyên nãi khuếch thiện nhân chi quảng bị” (Thánh tức là Phật, Phật tức là Thánh, bởi có thánh hiền mới khai tỏ Phật pháp thâm sâu; Duyên vốn là nhân, nhân vốn là duyên, hễ có duyên tốt mới chuyển hoá nhân lành rộng lớn). Đến năm đầu năm 1837 thì công việc trùng tu hoàn thành.
Tổng thể công trình chùa Thánh Duyên theo bố cục Chùa – gác – tháp, bố cục này khác hẳn với chùa Thiên Mụ (tháp rồi mới đến chùa). Bố cục này thể hiện tư tưởng Tam giáo đồng nguyên trong kiến trúc Phật giáo.
Các công trình kiến trúc cứ cao dần theo thế núi, những bậc cấp đi lên chùa do vậy trở thành những con đường nhỏ uốn mình dưới những rặng thông cổ thụ. Tuy nhiên, du khách lại không thấy các công trình này riêng lẻ mà là cảm giác nối tiếp nhau, tưởng chừng như tất cả đều nằm trong hệ thống trật tự, hài hoà theo quy luật phong thuỷ.
Chính điện thờ Phật là một ngôi nhà rường 3 gian 2 trái, cũng được kiến trúc hai tầng và mái lợp ngói liệt theo kiểu trùng thiềm điệp ốc.
Cách thờ tự ở chùa Thánh Duyên có tính cách đặc thù, không trình bày theo truyền thống chùa Huế. Gian chính ở giữa thờ Tam thế Phật: quá khứ, hiện tại và vị lai; phía trước thấp hơn bàn thờ Phật là bàn thờ bài vị vua Minh Mạng; hai gian tả hữu lại có những bàn thờ ở trong cùng và ở bên trước. Hai bên có hai dãy sập để tôn trí thờ Thập Điện Minh vương, mỗi bên gần sát vách thờ 5 tượng; tiếp đến vào phía trong thờ 2 dãy tượng thập bát La Hán, mỗi bên 9 tượng. Dãy bên trái có tượng Bồ đề đạt ma toạ thiền, đối qua bên phải là tượng Địa Tạng ngồi trên con sư tử xanh.
Gác Đại Từ là công trình được xây dựng theo lối nhà rường ở Huế. Gác được chia làm 3 gian: gian giữa thờ Phật, gian bên phải thờ đức Quan Âm và gian bên trái thờ Bồ tát Đại Thế Chí.
Tháp Điều Ngự là công trình cao nhất trong tổng thể kiến trúc Chùa Thánh Duyên. Tháp nằm trên một gò đất cao, tháp cao khoảng 13m, tháp có ba tầng, tháp có lối kiến trúc đế hình vuông. Mỗi tầng của tháp đều có lan cang và ba của vòm.
Ứng trên tầng hai và tầng ba nhìn ra bốn phía có thể thấy toàn cảnh không gian bên dưới là làng mạc, đầm phá, núi non, biển cả, cảm giác như toàn bộ đất trời đều nằm gọn trong lòng bàn tay, thật là một danh thắng hiếm hoi của đất nước. Phía sau Tháp Điều Ngự là Đình Tiến Sảng. Đình Tiến Sảng trước hết là để nghỉ ngơi, hóng gió mát từ ngoài biển khơi, sau đó là để tĩnh tâm.
Tổng thể công trình chùa Thánh Duyên và Túy Vân Sơn này đã được vua Thiệu Trị xếp hạng thứ 9 trong 20 thắng cảnh đất Kinh kỳ với tên gọi là Vân Sơn Thắng Tích.
Chùa Thánh Duyên hiện vẫn còn giữ lại những hiện vật có giá trị văn hóa và lịch sử cao. Trong đó đặc biệt có 2 tấm bia: 1 tấm bia được đặt trong chùa là tấm “Ngự chế Thánh Duyên tự chiêm lễ” của vua Minh Mạng, nói về việc vua tuần du Mỹ Am sơn năm 1835; tấm thứ hai là tấm bia được đặt ở phía tả cổng chùa, là tấm bia của vua Thiệu Trị, dựng vào năm 1841, có khắc bài “Vân Sơn Thắng Tích”.
Tại đây còn đến gần 70 pho tượng đồng, đặc biệt là bộ 18 tượng La Hán với nét điêu khắc tuyệt vời thể hiện nghệ thuật đúc tượng của thế kỷ XIX. Chùa được xếp hạng di tích quốc gia vào năm 2006.
Cần bàn tay du lịch
Bao năm qua, ngôi chùa vẫn trầm mặc lặng yên với thời gian, vẫn hấp dẫn bước chân của nhiều lữ khách. Tuy nhiên vấn đề khai thác du lịch từ khu di tích này hầu như là không có. Theo lời của Ông Hoàng Văn Cầu( phó chủ tịch xã Vinh Hiền) cho hay: “Du lịch ở đây nhiều năm qua là dạng du lịch tự do.” Nói rõ ra là du lịch tự phát, tự đến và tự đi. Khách du lịch đến với Chùa Thánh Duyên trong mỗi mùa hè khá nhiều tuy nhiên đa phần đi theo dạng gia đình và các nhóm thanh niên từ thành phố có sở thích khám phá.
Họ lên thăm chùa Thánh Duyên xong lại ra biển Vinh Hiền để nghỉ ngơi, thưởng thức hải sản cũng như tắm biển. Dạng du lịch này lại không đem đến hiệu quả kinh tế cho địa phương.
Các công ty du lịch trên địa bàn tỉnh cỏ vẻ như lờ đi Thánh Duyên. Ông Nguyễn Văn Khuyến ( cán bộ thông tin văn hóa xã Vinh Hiền) cho biết, xã đã kêu gọi đầu tư du lịch, nhưng đã ba năm vẫn chưa triển khai được. Nguyên nhân của việc này là do nguồn ngân sách của địa phương không đáp ứng được yêu cầu trong xây dựng các hạng mục du lịch.
ặc biệt là con đường từ quốc lộ 49b vào Chùa Thánh Duyên, nhiều năm qua xã đang huy động nguồn vốn để nâng cấp, mở đường cho việc đi lại thuận lợi hơn nhưng vẫn chưa thực hiện được. Tuy còn có những khó khăn nhưng Vinh Hiền cũng có những thuận lợi nhất định để khai thác du lịch từ Chùa Thánh Duyên cũng như Biển Vinh Hiền (một bãi biển được nhiều người đánh giá là đẹp và sạch, cách chùa Thánh Duyên khoảng 1km).
Cuối năm 2007, cầu Tư Hiền được khánh thành đưa vào sử dụng, đây là cây cầu nối liền hai xã Vinh Hiền và Lộc Bình đồng thời nối thông QL49B ven biển với QL1A, đặc biệt khi mũi Chân Mây Tây được khai thông sẽ mở ra hướng phát triển mới cho khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô và của cả tỉnh Thừa Thiên - Huế, nối liền Vinh Hiền với tam giác du lịch Lăng Cô – Cảnh Dương – Bạch Mã, đây là điều kiện thuận lợi để kết nối các tour du lịch mới.
Chùa Thánh Duyên nằm ngay bên Tam Giang Cầu Hai, các tour du lịch khám phá đầm phá Tam Giang cũng có thể kết hợp tham quan thắng tích bên cạnh đầm phá. Chùa Thánh Duyên có thể là chốn dừng chân nghỉ ngơi sau những giờ phút lênh đênh trên phá Tam Giang.
Thiên Huy
Saturday, May 2, 2015
Sân Đại Triều Nghi (hoàng thành Huế)
Du Lịch Huế - Điện Thái Hoà nằm ngay trên đường xuyên tâm Hoàng Thành nhìn thẳng ra cửa Ngọ Môn trong kinh thành Huế, Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế.
Đặc điểm: Điện Thái Hoà là trung tâm quan trọng nhất của kinh thành, tại đây tổ chức các buổi lễ đại triều. Điện Thái Hoà xây dựng năm 1805 đời Gia Long; năm 1806, Gia Long chính thức tổ chưc lễ đăng quang tại điện này. Năm 1833, vua Minh Mạng xây dựng Điện Thái Hoà ở chỗ hiện nay trên một nền cao 2,32m, toà điện dài 44m, sâu 30,5m, cao 11,8m, chính tịch 5 gian, hai chái, tiền tịch 7 gian hai chái, hai nếp nhà ghép lạí với nhau, cột sơn son, vẽ rồng vàng, giữa bờ nóc gắn mảnh sứ nhiều màu, mái lợp ngói Hoàng Lưu Ly. Ở gian chính giữa có treo một bức hoành khắc đại tự “Thái Hòa Điện”, phía trong là ngai vàng để trên bệ ba tầng, phía trên trần rủ xuống một cái bửu tán thiếp vàng, thêu hình viên long. Trên trần mỗi lồng căn có treo lồng đèn gương hình lục giác, bát giác, các cạnh đính gương ngũ sắc.

Năm 1839, vua Minh Mạng cho sơn son thiếp vàng bộ tuồng gỗ điện làm tăng thêm phần huy hoàng cho ngôi điện lịch sử này. Năm 1899, vua Thành Thái cho lát gạch hoa theo kiểu Tây phương. Năm 1923, Khải Định cho làm hai lớp gương ở phía trước và phía sau. (Nguyên thuỷ Điện Thái Hoà để trống chỉ có những bức sáo che). Trong điện có trang hoàng một số ché và đồ xưa. Trước sân đặt một hàng đôn bằng đá chạm, trên mỗi đôn có một cái thống lớn trồng cây cảnh rất quí. Những người xây dựng Điện Thái Hoà đã tạo được hai nét đặc sắc : mùa hè vào điện thấy mát, mùa đông thì trái lại, rất ấm. Ngồi trên ngai ở trung tâm nghe rất rõ những tiếng nói từ các nơi trong điện. Sân rộng trước điện gọi là sân Đại Triều Nghi, lát đá Thanh, chia làm hai bậc: bậc trên dành cho các quan văn, quan võ ấn quan (từ Hàng tam phẩm trở lên chánh nhất phẩm). Hai bên sân có hai hàng trụ đá đề rõ phẩm trật để cho các quan xem đó mà sắp hàng cho thứ tự gọi là Phẩm Sơn. Dưới cùng, gần cầu Trung Đạo còn một hàng nữa dành cho các kỳ cưu hương lão, thích lý đến chầu trong những dịp khánh tiết. Hai góc sân có hai con Kỳ Lân bằng đồng thiếp vàng để trong lồng gương bằng gỗ sơn vàng. Hai con Kỳ Lân được trang trí ở hai góc sân có ý nghĩa là đời thái bình, đồng thời nó cũng là một biểu tượng nhắc nhở sự nghiêm chỉnh giữa chốn triều nghi.

Ngăn cách giữa cửa Ngọ Môn và sân Đại Triều Nghi là hồ Thái Dịch Đào năm 1833. Cầu Trưng Đạo hai bên có lan can bắc qua hồ nối liền hai kiến trúc này với nhau. Ở hai đầu cầu Trung Đạo có dựng hai Phường Môn chạm nổi rồng năm móng (long vân đồng trụ), đường nét sắc sảo tinh vi .Tuy hai trụ bên đối xứng nhau nhưng một bên rồng vươn lên,một bên lao xuống vẫn tạo ra được sự sinh động hấp dẫn. Điện Thái Hoà là nơi tổ chức những lễ lớn của triều đình như lễ lên ngôi, lễ phong Hoàng Thái Tử, lễ tiếp đổn sứ thần nước lớn, lễ Vạn Thọ… Mỗi tháng có hai lần thiết đại triều ở đây, thường triều chỉ tổ chức ở điện Cần Chánh sau Đại Cung Môn. Khi thiết triều, vua đội mũ cửu long, mặc hoàng bào, lưng đeo đai, tay cầm hốt trầm quế, chân đi hia, uy nghi ngồi trên ngai vàng, các quan tứ trụ và những hoàng thân, quốc thích được đứng hai bên trong điện, còn toàn bộ các quan đều sắp hàng đứng ở ngoài sân theo phẩm trật như đã nêu trên. Những buổi thiết đại triều thường tổ chức rất sớm, khi mặt trời lên thì thường đã xong
Đặc điểm: Điện Thái Hoà là trung tâm quan trọng nhất của kinh thành, tại đây tổ chức các buổi lễ đại triều. Điện Thái Hoà xây dựng năm 1805 đời Gia Long; năm 1806, Gia Long chính thức tổ chưc lễ đăng quang tại điện này. Năm 1833, vua Minh Mạng xây dựng Điện Thái Hoà ở chỗ hiện nay trên một nền cao 2,32m, toà điện dài 44m, sâu 30,5m, cao 11,8m, chính tịch 5 gian, hai chái, tiền tịch 7 gian hai chái, hai nếp nhà ghép lạí với nhau, cột sơn son, vẽ rồng vàng, giữa bờ nóc gắn mảnh sứ nhiều màu, mái lợp ngói Hoàng Lưu Ly. Ở gian chính giữa có treo một bức hoành khắc đại tự “Thái Hòa Điện”, phía trong là ngai vàng để trên bệ ba tầng, phía trên trần rủ xuống một cái bửu tán thiếp vàng, thêu hình viên long. Trên trần mỗi lồng căn có treo lồng đèn gương hình lục giác, bát giác, các cạnh đính gương ngũ sắc.
Năm 1839, vua Minh Mạng cho sơn son thiếp vàng bộ tuồng gỗ điện làm tăng thêm phần huy hoàng cho ngôi điện lịch sử này. Năm 1899, vua Thành Thái cho lát gạch hoa theo kiểu Tây phương. Năm 1923, Khải Định cho làm hai lớp gương ở phía trước và phía sau. (Nguyên thuỷ Điện Thái Hoà để trống chỉ có những bức sáo che). Trong điện có trang hoàng một số ché và đồ xưa. Trước sân đặt một hàng đôn bằng đá chạm, trên mỗi đôn có một cái thống lớn trồng cây cảnh rất quí. Những người xây dựng Điện Thái Hoà đã tạo được hai nét đặc sắc : mùa hè vào điện thấy mát, mùa đông thì trái lại, rất ấm. Ngồi trên ngai ở trung tâm nghe rất rõ những tiếng nói từ các nơi trong điện. Sân rộng trước điện gọi là sân Đại Triều Nghi, lát đá Thanh, chia làm hai bậc: bậc trên dành cho các quan văn, quan võ ấn quan (từ Hàng tam phẩm trở lên chánh nhất phẩm). Hai bên sân có hai hàng trụ đá đề rõ phẩm trật để cho các quan xem đó mà sắp hàng cho thứ tự gọi là Phẩm Sơn. Dưới cùng, gần cầu Trung Đạo còn một hàng nữa dành cho các kỳ cưu hương lão, thích lý đến chầu trong những dịp khánh tiết. Hai góc sân có hai con Kỳ Lân bằng đồng thiếp vàng để trong lồng gương bằng gỗ sơn vàng. Hai con Kỳ Lân được trang trí ở hai góc sân có ý nghĩa là đời thái bình, đồng thời nó cũng là một biểu tượng nhắc nhở sự nghiêm chỉnh giữa chốn triều nghi.
Ngăn cách giữa cửa Ngọ Môn và sân Đại Triều Nghi là hồ Thái Dịch Đào năm 1833. Cầu Trưng Đạo hai bên có lan can bắc qua hồ nối liền hai kiến trúc này với nhau. Ở hai đầu cầu Trung Đạo có dựng hai Phường Môn chạm nổi rồng năm móng (long vân đồng trụ), đường nét sắc sảo tinh vi .Tuy hai trụ bên đối xứng nhau nhưng một bên rồng vươn lên,một bên lao xuống vẫn tạo ra được sự sinh động hấp dẫn. Điện Thái Hoà là nơi tổ chức những lễ lớn của triều đình như lễ lên ngôi, lễ phong Hoàng Thái Tử, lễ tiếp đổn sứ thần nước lớn, lễ Vạn Thọ… Mỗi tháng có hai lần thiết đại triều ở đây, thường triều chỉ tổ chức ở điện Cần Chánh sau Đại Cung Môn. Khi thiết triều, vua đội mũ cửu long, mặc hoàng bào, lưng đeo đai, tay cầm hốt trầm quế, chân đi hia, uy nghi ngồi trên ngai vàng, các quan tứ trụ và những hoàng thân, quốc thích được đứng hai bên trong điện, còn toàn bộ các quan đều sắp hàng đứng ở ngoài sân theo phẩm trật như đã nêu trên. Những buổi thiết đại triều thường tổ chức rất sớm, khi mặt trời lên thì thường đã xong
Subscribe to:
Posts (Atom)