Tuesday, June 9, 2015

Khu phố cổ Gia Hội, chợ Dinh (Huế)

Phố cổ Gia Hội - chợ Dinh ở Huế như một ốc đảo nằm giữa sông đào Đông Ba (Hộ thành hà) và vòng cung sông Hương đoạn từ chợ Đông Ba về phố cổ Bao Vinh. Đây là khu phố buôn bán sầm uất của người Hoa với tám nhà hàng lớn, mỗi nhà hàng có một tên riêng và có tên chung là Duyên giang bát hàng (tám hàng ở ven sông).


Thời Chúa Nguyễn khu vực này là doanh trại của quân đội. Người Hoa gọi khu vực đóng quân là dinh. Theo thư tịch cũ, ngày xưa ở cuối phố này có chợ phục vụ cho binh lính gọi là Dinh thị hạ ấp. Có thể từ cái chợ Dinh ấy mà về sau ra tên phố Chợ Dinh chăng? Giả thiết thứ hai, thời nhà Nguyễn khu vực này là đất lập phủ phòng, đệ trạch của các ông hoàng bà chúa, dinh thự của các quan lại trong triều. Trong số đó có Dinh Ông.

Dinh Ông là tư thất của Phụ chính đại thần Trần Tiễn Thành (1813 - 1883) dưới triều Tự Đức. Vì không ăn cánh với hai quan Phụ chánh Đại thần khác là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường nên Trần Tiễn Thành đã xin về nghỉ tại Dinh Ông. Phía dưới Dinh Ông có nhiều phủ lớn như Phủ Thọ Xuân Vương, Phủ Thoại Thái Vương, Phủ Hoà Thạnh Vương, Phủ Quảng Biên Quận Công...

Thọ Xuân Vương Miên Định (1810-1886) là con của vua Minh Mạng. Ông có vai trò quan trọng trong tổ chức điều hành Tôn Nhơn Phủ, từng làm nhiếp chính khi vua Hàm Nghi xuất bôn. Ông cương trực, thẳng thắn. Vì quốc thể ông đã thét vào mặt sứ Thanh là Bảo Thanh, bắt hắn xuống ngựa khi đi vào cửa Chu Tước thành Thăng Long, trong dịp sứ Thanh sang làm lễ tuyên phong vua Thiệu Trị.

Ở phố Chợ Dinh xưa, ngoài các dinh thự, phủ phòng còn có khá nhiều ngôi nhà cổ, những di tích lịch sử, văn hoá và chùa, miếu của cả người Việt và người Hoa. Du khách có nhu cầu tham quan, tìm hiểu các công trình kiến trúc, các nhân vật lịch sử chắc chắn phải cất công đi về nhiều lần. Dưới đây là một vài địa chỉ tiêu biểu:

Đền Chiêu Ứng, được dựng vào năm 1887, thờ 108 người Hải Nam sang định cư làm ăn ở Thuận Hoá. Chùa Bà, do người Hoa khi mới đến Thuận Hoá đã lập ở làng Minh Hương (Bao Vinh) để thờ Bà Mã Châu. Khi lên khu phố mới Gia Hội làm ăn họ làm thêm Chùa Bà này. Chùa Quảng Đông, thờ Quan Công, do Bang Quảng Đông lập từ cuối thế kỷ 19. Chùa Triều Châu do người Triều Châu lập để thờ vong linh phiêu bạt của Bang Triều Châu. Chùa Phúc Kiến, ở cạnh chùa Triều Châu, lập thời Tự Đức...

Các công trình của người Việt đáng kể nhất ở đây là Thanh Bình Thự mà trung tâm là nhà thờ tổ ngành hát tuồng. Từ đường Thanh Bình được lập thời Minh Mạng, năm 1825, thờ các tổ sư nghề hát tuồng và những người có công lao đối với sân khấu tuồng trên cả nước. Thanh Bình Thự, bao quanh từ đường, là cơ quan điều hành, dàn dựng các chương trình múa hát cung đình đồng thời là nơi đào tạo nghệ nhân ca vũ nhạc truyền thống. Thanh Bình Thự đã được xếp hạng là di tích văn hoá quốc gia.

Friday, May 8, 2015

Cầu ngói Thanh Toàn

Cầu ngói Thanh Toàn là chiếc cầu vồng bằng gỗ bắc qua một con mương làng Thanh Toàn, thuộc xã Thuỷ Thanh, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên - Huế, cách thành phố Huế khoảng 8 km. Đây là chiếc cầu gỗ được xếp vào loại hiếm và có giá trị nghệ thuật cao nhất trong các loại cầu cổ ở Việt Nam. Cầu được Bộ Văn hoá cấp bằng công nhận là Di tích cấp quốc gia theo Quyết định số 575QÐ/VH ngày 14 tháng 7 năm 1990.

Cầu ngói Thanh Toàn được xây dựng theo lối "thượng gia hạ kiều" (trên nhà, dưới cầu). Cầu dài 43 thước mộc (18,75m), rộng 14 thước mộc (5,82m), chia làm 7 gian, hai bên thân cầu có hai dãy bục gỗ và lan can để ngồi tựa lưng. Trên cầu có mái che, lợp ngói lưu ly. Cầu đầu tiên được xây dựng cách đây hơn hai thế kỷ đã bao lần bị gió bão, lụt lội và chiến tranh tàn phá. Tuy nhiên, sau các lần hư hỏng, nhân dân xã đều chung nhau tu sửa, tôn tạo và gìn giữ.

Chợ quê ngày hội- Cầu ngói Thanh Toàn

Cầu đã được trùng tu, sửa chữa vào các năm 1847, 1906, 1956, 1971. Qua các lần tu sửa, chất liệu gốc của cầu ngói đã có thay đổi như trụ cầu bằng gỗ lim được thay bằng gạch và xi măng, kích thước thu hẹp chiều dài còn 16,85m và rộng là 4,63m

Vào thế kỷ 16, trong số những di dân từ Thanh Hoá theo chúa Nguyễn Hoàng vào Thuận Hoá, có 12 vị tộc trưởng đã dừng chân lập nghiệp ở đây tạo nên 12 họ khai canh của làng Thanh Toàn[3].

Cây cầu là nơi gặp gỡ của dân làng. Cũng là nơi hóng gió, nghỉ ngơi

Cầu được ghi nhận xây vào năm 1776, do một người cháu gái thuộc thế hệ thứ sáu của họ Trần là bà Trần Thị Ðạo đã cúng tiền cho làng xây dựng, để dân làng qua lại được thuận tiện và là nơi cho lữ khách cùng người tha phương tạm dừng chân lỡ bước.

Bà Trần Thị Ðạo là vợ một vị quan cao cấp dưới triều vua Lê Hiển Tông nhưng không có con. Để cầu tự, bà dùng tiền của mình để làm phúc cho dân làng, cho xứ. Bà được dân làng tôn sùng, thờ phụng. Năm 1776, vua Lê Hiển Tông đã ban sắc khen ngợi bà Trần Thị Ðạo và miễn cho làng nhiều loại sưu dịch để họ nhớ đến công ơn và noi theo tấm gương tốt của bà. Trong tờ sắc, có đoạn viết rằng: "Bà Trần Thị Ðạo sinh quán tại làng Thanh Toàn...là người có đức hạnh. Cuộc sống của bà làm cho người người ngưỡng mộ mọi mặt. Bà là người đáng khen ngợi hơn ai hết. Bà đã làm cho làng được ban những ân huệ mà người ta sẽ ghi nhớ mãi..."

Năm 1925, vua Khải Ðịnh cũng ban sắc phong trần cho bà là Dực Bảo Trung Hưng Linh phò và lệnh cho dân lập bàn thờ ngay trên cầu để thờ cúng bà.

Wednesday, May 6, 2015

Chùa Từ Hiếu

Chùa Từ Hiếu hay Tổ đình Từ Hiếu là tên một ngôi chùa ở thôn Dương Xuân Thượng III, xã Thủy Xuân, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên-Huế.

Chùa là một trong những ngôi cổ tự lớn và là một danh lam có tính văn hoá và lịch sử của cố đô Huế.

Năm 1843, sau khi từ chức "Tăng Cang Giác Hoàng Quốc Tự" và trao quyền điều hành chùa Bảo Quốc cho pháp đệ là Nhất Niệm, Hoà thượng Nhất Ðịnh đã đến đây khai sơn, dựng "Thảo Am An Dưỡng" để tịnh tu và nuôi dưỡng mẹ già.
Hoà thượng Nhất Ðịnh nổi tiếng là người con có hiếu, tương truyền có lần mẹ già bị bệnh rất nặng, hàng ngày ông lo thuốc thang nhưng bà vẫn không khỏi. Có người ái ngại khuyên ông nên mua thêm thịt cá để tẩm bổ cho mẹ, có làm được điều đó mới mong bà chóng hồi sức. Nghe xong, mặc thiên hạ đàm tiếu chê bai, thiền sư vẫn chống gậy băng rừng lội bộ xuống chợ cách đó hơn 5 km để mua cá mang về nấu cháo cho mẹ già ăn. Câu chuyện vang đến tai Tự Đức vốn là vị vua rất hiếu thảo với mẹ, vua rất cảm phục trước tấm lòng của sư Nhất Định nên ban cho "Sắc tứ Từ Hiếu tự". Chùa được mang tên Từ Hiếu từ đó. Trong tấm bia ghi lại quá trình xây dựng chùa giải thích:
* Từ: là đức lớn của Phật, nếu không từ thì lấy gì tiếp độ tứ sanh cứu giúp vạn loại.
* Hiếu: là đầu hạnh của Phật, nếu không hiếu thì lấy gì để đạt thông cõi nhiệm bao phủ đất trời.



Cùng với sự đóng góp của Phật tử, vua Tự Đức ban cấp nhiều kinh phí, chùa còn được các vị quan trong cung triều Nguyễn mà nhất là các vị thái giám cúng dường tiền bạc để lo việc thờ tự sau này, năm 1848 Hoà thượng Cương Kỷ bắt đầu xây dựng chùa qui mô hơn và rồi Từ Hiếu trở thành một ngôi chùa lớn.

Năm 1894 Hoà thượng Cương Kỷ tiếp tục trùng tu và kiến thiết toàn cảnh chùa với sự giúp đỡ của vua Thành Thái, giám quan và các Phật tử.



Năm 1931 Hoà thượng Huệ Minh tiếp tục tùng tu và xây hồ bán nguyệt.
Năm 1962 Hoà thượng Chơn Thiệt tiếp tục trùng tu và chỉnh trang toàn cảnh chùa.
Năm 1971, chùa được Thượng toạ Chí Niệm cho trùng tu cửa tam quan, hồ bán nguyệt và những nhà cửa bị hư hỏng.



Chùa Từ Hiếu nằm khuất trong một rừng thông trên một vùng đồi của xã Thủy Xuân. Khuôn viên chùa rộng chừng 8 mẫu, phía trước có khe nước uốn quanh, phong cảnh thơ mộng.
Hồ bán nguyệt
Trước cổng chùa có ngôi tháp cao 3 tầng được xây dựng vào năm 1896 dùng làm nơi tàng trữ kinh tượng theo sắc chỉ của nhà vua. Cổng chùa được xây theo kiểu vòm cuốn, hai tầng có mái che và ngay trước con đường lát gạch để vào chánh điện là một hồ bán nguyệt trồng sen và nuôi cá cảnh. Cấu trúc chùa theo kiểu ba căn hai chái, trước là chính điện thờ Phật, sau là Quảng Hiếu Đường. Ở khu nhà hậu có án thờ Tả quân đô thống Lê Văn Duyệt cùng con ngựa gỗ và thanh đại đao của ông.

Hai bên sân chùa có hai lầu bia để ghi lịch sử xây dựng chùa. Chùa được xây theo kiểu chữ khẩu (口), chính điện ba căn, hai chái, phía trước thờ Phật, phía sau thờ Tổ. Nhà hậu là Quảng Hiếu đường, ở giữa thờ đức thánh quan, bên trái thờ hương linh phật tử tại gia, bên phải thờ các vị Thái giám..., bên tả sân hậu là Tả Lạc Thiên (nhà tăng) và bên hữu là Hữu Ái Nhật (nhà khách).

Lăng mộ Thái giám triều Nguyễn trong khuôn viên chùa

Xung quanh ngôi chùa Từ Hiếu còn có khá nhiều lăng mộ các vị phi tần của các chúa Nguyễn. Do địa thế đẹp, yên tĩnh lại không xa thành phố Huế nên nơi đây là nơi điểm vui chơi dã ngoại của thanh niên Huế vào những ngày nghỉ, ngày lễ. Chùa Từ Hiếu là một trong những ngôi chùa cổ đón khách du lịch trong và ngoài nước đông nhất cố đô Huế.



Các vị Trụ trì

Tổ đình Từ Hiếu do nguyên "Tăng Cang Giác Hoàng Quốc Tự" tức Hoà thượng Nhất Ðịnh khai sơn, chùa trải qua các đời trú trì:
* Hòa Thượng Cương Kỷ.
* Hòa Thượng Huệ Đăng.
* Hòa Thượng Tâm Tịnh.
* Hòa Thượng Huệ Minh.
* Hòa Thượng Chơn Thiệt.
* Thượng Tọa Chí Niệm.
* Thiền sư Nhất Hạnh
Sinh hoạt và tác thành
Năm 1848, chùa tổ chức lễ khánh thành, có mặt tham dự của vua Dực Tông, bà Từ Dũ và các quan đại thần.

Năm 1924, chùa tổ chức Đại Giới Đàn có sự tham dự của vua Khải Định, hoà thượng Tâm Tịnh làm đàn đầu, hoà thượng Huệ Minh làm đàn chủ. Hoà thượng Mật Khế, Viên Quan, Bích Phong, Đôn Hậu là những giới tử xuất thân từ giới đàn này.

Năm 1965, Đại Giới Đàn Vạn Hạnh được tổ chức tại đây.



Qua các đời trú trì, chùa đã trùng khắc và in các kinh văn như: Phật Thuyết Báo Ân Phụng Bồn Kinh, Cao Vương Quán Thế Âm Kinh, Thiền Môn Nhật Tụng, Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa Kinh, Pháp Bảo Đàn kinh, Niệm Phật cầu vãng sanh nghi...
Chùa cũng là nơi trực tiếp hoặc gián tiếp tác thành danh tăng và thiền sư như: Diệu Giác, Hải Thiệu, Tâm Tính, Huệ Minh, Huệ Pháp, Huệ Giác, Viên Giác, Viên Thành, Chơn Thiện, Chơn Như...

Sunday, May 3, 2015

Theo dấu tích vương triều Tây Sơn: Ẩn trong chùa chiền

Du Lịch Huế - Bên cạnh núi Bân đã được đầu tư, tôn tạo, dấu tích vương triều Tây Sơn được sử sách chép lại ở Huế hiện nay là các ngôi chùa ở vùng tây nam kinh thành.
Theo Đại Nam thực lục, chùa Báo Quốc trên đồi Hàm Long dưới thời Tây Sơn được trưng dụng làm kho muối. Dư địa chí Thừa Thiên-Huế cho biết chùa Báo Quốc tọa lạc trên đồi Hàm Long trên đất xưa gọi là làng Thụy Lôi, gần với xóm Lịch Đợi. Từ đây nhìn xuống hướng đông là đường Điện Biên Phủ hiện nay (con đường dẫn lên đàn Nam Giao) và nhìn về hướng bắc là ga xe lửa. Chùa do Hòa thượng Giác Phong, người Quảng Đông (Trung Quốc), khai sơn vào cuối thế kỷ 17 dưới đời vua Lê Dụ Tông và đặt tên là Hàm Long tự. Sau đó Võ vương Nguyễn Phúc Khoát ban sắc tứ Báo Quốc tự vào năm 1747. Hiện vẫn còn tấm biển thếp vàng và những bức liễn từ thời ấy. Thời Tây Sơn, chùa bị sử dụng làm công xưởng.

Sử sách triều Nguyễn và cả tư liệu của chùa hiện nay không có ghi chép gì nhiều về thời gian nhà Tây Sơn trưng dụng chùa trong hoàn cảnh như thế nào và vì sao, ngoài vài dòng vắn tắt trong Đại Nam thực lục.

Đến năm 1808, để báo hiếu mẹ là Hiếu Khương Hoàng Thái hậu, vua Gia Long trùng tu chùa, xây tam quan và đúc một đại hồng chung nặng 826 cân, cao 1,4m, đường kính 1,2m. Vua đặt tên là Thiên Thọ tự, nhưng về sau vì lăng Gia Long cũng gọi là Thiên Thọ lăng nên vua Minh Mạng đổi lại tên như cũ. Vua Minh Mạng trùng tu chùa vào năm 1824 và vua Tự Đức góp phần tôn tạo vào năm 1858. Khu mộ tháp có tháp tổ Giác Phong và các vị kế thế như Phổ Tịnh, Viên Giác, Diệu Giác.

Hiện nay, chùa Báo Quốc là một ngôi chùa cổ có cảnh quan rất đẹp, với sân vườn rộng. Dưới chân núi có giếng Hàm Long, nước rất trong, tương truyền trước đây nước giếng chỉ để cho vua dùng.

Đến chùa Thiền Lâm

Dọc theo tuyến đường Điện Biên Phủ ngược lên dốc Nam Giao, trên dãy Long Sơn (núi rồng) còn có chùa Thiền Lâm.

Theo Lịch sử Phật giáo xứ Huế, đất Thiền Lâm ngày xưa, vào đời các chúa, từ Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) kéo dài cho đến đời Tây Sơn (1777-1801), còn rất rộng; theo địa hình hiện tại là từ trước chùa Từ Đàm, kéo theo đường Nam Giao cựu lộ và qua cả mấy vùng từ chùa Vạn Phước kéo lên cho tận đàn Nam Giao. Trong sách Hải ngoại kỷ sự (viết năm 1695), hòa thượng Thạch Liêm tả cảnh chùa Thiền Lâm như sau: “Đi quanh hai ba lớp núi, nghe trong rừng tre có tiếng trống chuông”... hay: “Chùa dựng đầu cầu cao chất ngất” với “Lối tiều quanh núi khi mờ tỏ, lều cỏ ven đồi khoảng hở liền”.

Chùa Thiền Lâm do ngài Khắc Huyền khai sơn để hoằng truyền phái Tào Động, lúc này đã có Quả Hoằng Quốc sư kiêm nhiệm. Bia tháp tổ Khắc Huyền đề “Khai sơn Thiền Lâm viện”. Vào năm 1695, chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) và Hòa thượng Thạch Liêm khai đại giới đàn Thuận Hóa ở đây, và từ năm đó về sau chùa Thiền Lâm trở thành một thiền viện lớn. Cho đến thời Cảnh Thịnh, Bùi Đắc Tuyên đã chiếm dụng chùa làm phủ.

Sau khi vua Quang Trung băng hà, Bùi Đắc Tuyên được thăng chức Thái sư đã chuyên quyền gây chia rẽ nội bộ hoàng tộc của triều Tây Sơn. Lúc này, Điện tiền tướng quân Võ Văn Dũng được thăng chức Tư đồ và được phong từ tước Quận công lên Quốc công, có thế lực rất mạnh. Ông đã đưa quân bí mật bao vây chùa Thiền Lâm bắt Bùi Đắc Tuyên. Nhưng đêm ấy Bùi Đắc Tuyên ngủ lại trong cung nên Võ Văn Dũng xông thẳng vào cung yêu cầu vua Cảnh Thịnh giao người. Trước thế không thể ngăn cản, vua Cảnh Thịnh đành phải giao nộp Bùi Đắc Tuyên. Sau đó Võ Văn Dũng còn cho người vào Qui Nhơn bắt Bùi Ðắc Trụ (con Bùi Đắc Tuyên) đang giữ việc quân ở nơi ấy, một mặt giả chiếu ra Bắc Hà bắt luôn Ngô Văn Sở.

Sau khi bắt hết phe đảng Bùi Đắc Tuyên, Võ Văn Dũng đem nhốt vào cũi dìm xuống sông cho đến chết (1795). Sách Hoàng Lê nhất thống chí thuật lại chuyện này như sau: "(Võ Văn) Dũng đến nhà trạm Hoàng Giang, gặp trung thư lệnh là Trần Văn Kỷ phạm tội bị đày ở đó. Dũng cùng ngủ đêm với Kỷ, Kỷ bèn nói với Dũng rằng: "Quan thái sư (chỉ Đắc Tuyên) chức vị đã cao tột bậc, trong tay nắm quyền làm oai làm phúc, lại đẩy ông ra ngoài, nếu có sự chẳng lợi cho nhà nước, các ông phỏng còn giữ được đầu chăng? Bây giờ chẳng sớm liệu đi, sau này ăn năn sao kịp?". Dũng vốn tin và trọng Văn Kỷ, bèn cho lời Kỷ là phải. Hôm sau, Dũng đem quân bản bộ gấp đường quay về, hợp mưu với Thái bảo Hóa, bắt phe đảng Đắc Tuyên bỏ ngục; lại sai người vào Qui Nhơn bắt Đắc Trụ và sai Đô đốc Hài ra thành Thăng Long lập mẹo bắt Ngô Văn Sở đưa về, rồi thêu dệt thành tội trạng làm phản mà đem dìm xuống nước cho chết hết. Quang Toản không thể ngăn chặn nổi, đành chỉ khóc lóc mà thôi".

Sách Đại Nam nhất thống chí, chép về giai đoạn chùa Thiền Lâm bị Bùi Đắc Tuyên chiếm dụng như sau: Tương truyền chùa do Thạch Liêm hòa thượng dựng (đoạn này Đại Nam nhất thống chí chưa chính xác, vì theo sách Hải ngoại kỷ sự của hòa thượng Thạch Liêm, khi ông đến đây chùa đã có từ trước, do Hòa thượng Khắc Huyền khai sơn, như đã dẫn ở trên). Sau Bùi Đắc Tuyên thái sư triều ngụy Tây dùng làm nhà ở, Đắc Tuyên bị hại, người dân trong ấp nhân nền cũ chữa lại, đến khoảng đời Gia Long bản triều, Thừa Thiên Cao hoàng hậu bỏ tiền ra sửa lại.

Ngày nay, chùa Báo Quốc và chùa Thiền Lâm đều đã được các thế hệ tiếp nối trùng tu tôn tạo lại, trở thành hai ngôi chùa lớn của Huế. Tuy nhiên, ít hai biết rằng nơi đây đã từng ghi dấu của vương triều Tây Sơn.

Tinh khiết Thánh Duyên Quốc Tự chốn cố đô

Du Lịch Huế - Cách thành phố Huế khoảng 50km về phía đông nam có một ngôi Cổ tự. Đây là một trong ba ngôi quốc tự ở đất kinh kỳ (hai ngôi chùa khác đó là Linh Mụ và Diệu Đế)

Nay chùa đã được công nhận là một di tích cấp quốc gia. Nơi đây, tinh khiết, trong trẻo gần như tuyệt đối của một vùng trời, nước và đảo hoang sơ, ít dấu chân người.

Thắng tích bên phá Tam giang

Quốc tự mang tên Thánh Duyên. Chùa toạ lạc ở Tuý Vân sơn, cổng chùa quay về hướng Đông Nam, ngày trước thuộc phường Đông Am, tổng Diêm Trường, huyện Phú Lộc, phủ Thừa Thiên; nay là làng Hiền Vân, xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc, TT Huế.

Túy Vân sơn còn có tên gọi khác là Mỹ Am sơn hay núi Mũi Am - mũi đất nằm gần phá Cầu Hai, nơi tiếp giáp với cửa biển Tư Hiền( ngày xưa có tên khác là Tư Dung).




Để đến được với chùa, từ phía Bắc có thể men theo Quốc lộ 49b hướng đi từ Huế về Thuận An rồi theo đường ven biển về đến chùa, cũng có thể từ Quốc lộ 1A rẽ hướng cầu Trường Hà rồi cũng theo Quốc lộ 49b.

Chùa Thánh Duyên cũ do chúa Nguyễn Phúc Chu (Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng Đế năm 1691) lập nên.

Mùa thu năm 1836, Vua Minh Mạng hạ chỉ cho đào móng, xây chùa mới trên di tích cũ, và đặt tên là Thánh Duyên và xây thêm gác Đại Từ và Tháp Điều Ngự. Chùa có tên là Thánh Duyên vì: “Thánh tức thị Phật, Phật tức thị Thánh, hữu thị Thánh phương khai Phật pháp chi sùng thâm; Duyên bổn thị nhân, nhân bổn thị duyên, hữu thị duyên nãi khuếch thiện nhân chi quảng bị” (Thánh tức là Phật, Phật tức là Thánh, bởi có thánh hiền mới khai tỏ Phật pháp thâm sâu; Duyên vốn là nhân, nhân vốn là duyên, hễ có duyên tốt mới chuyển hoá nhân lành rộng lớn). Đến năm đầu năm 1837 thì công việc trùng tu hoàn thành.

Tổng thể công trình chùa Thánh Duyên theo bố cục Chùa – gác – tháp, bố cục này khác hẳn với chùa Thiên Mụ (tháp rồi mới đến chùa). Bố cục này thể hiện tư tưởng Tam giáo đồng nguyên trong kiến trúc Phật giáo.

Các công trình kiến trúc cứ cao dần theo thế núi, những bậc cấp đi lên chùa do vậy trở thành những con đường nhỏ uốn mình dưới những rặng thông cổ thụ. Tuy nhiên, du khách lại không thấy các công trình này riêng lẻ mà là cảm giác nối tiếp nhau, tưởng chừng như tất cả đều nằm trong hệ thống trật tự, hài hoà theo quy luật phong thuỷ.

Chính điện thờ Phật là một ngôi nhà rường 3 gian 2 trái, cũng được kiến trúc hai tầng và mái lợp ngói liệt theo kiểu trùng thiềm điệp ốc.

Cách thờ tự ở chùa Thánh Duyên có tính cách đặc thù, không trình bày theo truyền thống chùa Huế. Gian chính ở giữa thờ Tam thế Phật: quá khứ, hiện tại và vị lai; phía trước thấp hơn bàn thờ Phật là bàn thờ bài vị vua Minh Mạng; hai gian tả hữu lại có những bàn thờ ở trong cùng và ở bên trước. Hai bên có hai dãy sập để tôn trí thờ Thập Điện Minh vương, mỗi bên gần sát vách thờ 5 tượng; tiếp đến vào phía trong thờ 2 dãy tượng thập bát La Hán, mỗi bên 9 tượng. Dãy bên trái có tượng Bồ đề đạt ma toạ thiền, đối qua bên phải là tượng Địa Tạng ngồi trên con sư tử xanh.

Gác Đại Từ là công trình được xây dựng theo lối nhà rường ở Huế. Gác được chia làm 3 gian: gian giữa thờ Phật, gian bên phải thờ đức Quan Âm và gian bên trái thờ Bồ tát Đại Thế Chí.

Tháp Điều Ngự là công trình cao nhất trong tổng thể kiến trúc Chùa Thánh Duyên. Tháp nằm trên một gò đất cao, tháp cao khoảng 13m, tháp có ba tầng, tháp có lối kiến trúc đế hình vuông. Mỗi tầng của tháp đều có lan cang và ba của vòm.

Ứng trên tầng hai và tầng ba nhìn ra bốn phía có thể thấy toàn cảnh không gian bên dưới là làng mạc, đầm phá, núi non, biển cả, cảm giác như toàn bộ đất trời đều nằm gọn trong lòng bàn tay, thật là một danh thắng hiếm hoi của đất nước. Phía sau Tháp Điều Ngự là Đình Tiến Sảng. Đình Tiến Sảng trước hết là để nghỉ ngơi, hóng gió mát từ ngoài biển khơi, sau đó là để tĩnh tâm.

Tổng thể công trình chùa Thánh Duyên và Túy Vân Sơn này đã được vua Thiệu Trị xếp hạng thứ 9 trong 20 thắng cảnh đất Kinh kỳ với tên gọi là Vân Sơn Thắng Tích.

Chùa Thánh Duyên hiện vẫn còn giữ lại những hiện vật có giá trị văn hóa và lịch sử cao. Trong đó đặc biệt có 2 tấm bia: 1 tấm bia được đặt trong chùa là tấm “Ngự chế Thánh Duyên tự chiêm lễ” của vua Minh Mạng, nói về việc vua tuần du Mỹ Am sơn năm 1835; tấm thứ hai là tấm bia được đặt ở phía tả cổng chùa, là tấm bia của vua Thiệu Trị, dựng vào năm 1841, có khắc bài “Vân Sơn Thắng Tích”.

Tại đây còn đến gần 70 pho tượng đồng, đặc biệt là bộ 18 tượng La Hán với nét điêu khắc tuyệt vời thể hiện nghệ thuật đúc tượng của thế kỷ XIX. Chùa được xếp hạng di tích quốc gia vào năm 2006.

Cần bàn tay du lịch

Bao năm qua, ngôi chùa vẫn trầm mặc lặng yên với thời gian, vẫn hấp dẫn bước chân của nhiều lữ khách. Tuy nhiên vấn đề khai thác du lịch từ khu di tích này hầu như là không có. Theo lời của Ông Hoàng Văn Cầu( phó chủ tịch xã Vinh Hiền) cho hay: “Du lịch ở đây nhiều năm qua là dạng du lịch tự do.” Nói rõ ra là du lịch tự phát, tự đến và tự đi. Khách du lịch đến với Chùa Thánh Duyên trong mỗi mùa hè khá nhiều tuy nhiên đa phần đi theo dạng gia đình và các nhóm thanh niên từ thành phố có sở thích khám phá.

Họ lên thăm chùa Thánh Duyên xong lại ra biển Vinh Hiền để nghỉ ngơi, thưởng thức hải sản cũng như tắm biển. Dạng du lịch này lại không đem đến hiệu quả kinh tế cho địa phương.

Các công ty du lịch trên địa bàn tỉnh cỏ vẻ như lờ đi Thánh Duyên. Ông Nguyễn Văn Khuyến ( cán bộ thông tin văn hóa xã Vinh Hiền) cho biết, xã đã kêu gọi đầu tư du lịch, nhưng đã ba năm vẫn chưa triển khai được. Nguyên nhân của việc này là do nguồn ngân sách của địa phương không đáp ứng được yêu cầu trong xây dựng các hạng mục du lịch.

ặc biệt là con đường từ quốc lộ 49b vào Chùa Thánh Duyên, nhiều năm qua xã đang huy động nguồn vốn để nâng cấp, mở đường cho việc đi lại thuận lợi hơn nhưng vẫn chưa thực hiện được. Tuy còn có những khó khăn nhưng Vinh Hiền cũng có những thuận lợi nhất định để khai thác du lịch từ Chùa Thánh Duyên cũng như Biển Vinh Hiền (một bãi biển được nhiều người đánh giá là đẹp và sạch, cách chùa Thánh Duyên khoảng 1km).

Cuối năm 2007, cầu Tư Hiền được khánh thành đưa vào sử dụng, đây là cây cầu nối liền hai xã Vinh Hiền và Lộc Bình đồng thời nối thông QL49B ven biển với QL1A, đặc biệt khi mũi Chân Mây Tây được khai thông sẽ mở ra hướng phát triển mới cho khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô và của cả tỉnh Thừa Thiên - Huế, nối liền Vinh Hiền với tam giác du lịch Lăng Cô – Cảnh Dương – Bạch Mã, đây là điều kiện thuận lợi để kết nối các tour du lịch mới.

Chùa Thánh Duyên nằm ngay bên Tam Giang Cầu Hai, các tour du lịch khám phá đầm phá Tam Giang cũng có thể kết hợp tham quan thắng tích bên cạnh đầm phá. Chùa Thánh Duyên có thể là chốn dừng chân nghỉ ngơi sau những giờ phút lênh đênh trên phá Tam Giang.
Thiên Huy

Saturday, May 2, 2015

Sân Đại Triều Nghi (hoàng thành Huế)

Du Lịch Huế - Điện Thái Hoà nằm ngay trên đường xuyên tâm Hoàng Thành nhìn thẳng ra cửa Ngọ Môn trong kinh thành Huế, Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Đặc điểm: Điện Thái Hoà là trung tâm quan trọng nhất của kinh thành, tại đây tổ chức các buổi lễ đại triều. Điện Thái Hoà xây dựng năm 1805 đời Gia Long; năm 1806, Gia Long chính thức tổ chưc lễ đăng quang tại điện này. Năm 1833, vua Minh Mạng xây dựng Điện Thái Hoà ở chỗ hiện nay trên một nền cao 2,32m, toà điện dài 44m, sâu 30,5m, cao 11,8m, chính tịch 5 gian, hai chái, tiền tịch 7 gian hai chái, hai nếp nhà ghép lạí với nhau, cột sơn son, vẽ rồng vàng, giữa bờ nóc gắn mảnh sứ nhiều màu, mái lợp ngói Hoàng Lưu Ly. Ở gian chính giữa có treo một bức hoành khắc đại tự “Thái Hòa Điện”, phía trong là ngai vàng để trên bệ ba tầng, phía trên trần rủ xuống một cái bửu tán thiếp vàng, thêu hình viên long. Trên trần mỗi lồng căn có treo lồng đèn gương hình lục giác, bát giác, các cạnh đính gương ngũ sắc.



Năm 1839, vua Minh Mạng cho sơn son thiếp vàng bộ tuồng gỗ điện làm tăng thêm phần huy hoàng cho ngôi điện lịch sử này. Năm 1899, vua Thành Thái cho lát gạch hoa theo kiểu Tây phương. Năm 1923, Khải Định cho làm hai lớp gương ở phía trước và phía sau. (Nguyên thuỷ Điện Thái Hoà để trống chỉ có những bức sáo che). Trong điện có trang hoàng một số ché và đồ xưa. Trước sân đặt một hàng đôn bằng đá chạm, trên mỗi đôn có một cái thống lớn trồng cây cảnh rất quí. Những người xây dựng Điện Thái Hoà đã tạo được hai nét đặc sắc : mùa hè vào điện thấy mát, mùa đông thì trái lại, rất ấm. Ngồi trên ngai ở trung tâm nghe rất rõ những tiếng nói từ các nơi trong điện. Sân rộng trước điện gọi là sân Đại Triều Nghi, lát đá Thanh, chia làm hai bậc: bậc trên dành cho các quan văn, quan võ ấn quan (từ Hàng tam phẩm trở lên chánh nhất phẩm). Hai bên sân có hai hàng trụ đá đề rõ phẩm trật để cho các quan xem đó mà sắp hàng cho thứ tự gọi là Phẩm Sơn. Dưới cùng, gần cầu Trung Đạo còn một hàng nữa dành cho các kỳ cưu hương lão, thích lý đến chầu trong những dịp khánh tiết. Hai góc sân có hai con Kỳ Lân bằng đồng thiếp vàng để trong lồng gương bằng gỗ sơn vàng. Hai con Kỳ Lân được trang trí ở hai góc sân có ý nghĩa là đời thái bình, đồng thời nó cũng là một biểu tượng nhắc nhở sự nghiêm chỉnh giữa chốn triều nghi.



Ngăn cách giữa cửa Ngọ Môn và sân Đại Triều Nghi là hồ Thái Dịch Đào năm 1833. Cầu Trưng Đạo hai bên có lan can bắc qua hồ nối liền hai kiến trúc này với nhau. Ở hai đầu cầu Trung Đạo có dựng hai Phường Môn chạm nổi rồng năm móng (long vân đồng trụ), đường nét sắc sảo tinh vi .Tuy hai trụ bên đối xứng nhau nhưng một bên rồng vươn lên,một bên lao xuống vẫn tạo ra được sự sinh động hấp dẫn. Điện Thái Hoà là nơi tổ chức những lễ lớn của triều đình như lễ lên ngôi, lễ phong Hoàng Thái Tử, lễ tiếp đổn sứ thần nước lớn, lễ Vạn Thọ… Mỗi tháng có hai lần thiết đại triều ở đây, thường triều chỉ tổ chức ở điện Cần Chánh sau Đại Cung Môn. Khi thiết triều, vua đội mũ cửu long, mặc hoàng bào, lưng đeo đai, tay cầm hốt trầm quế, chân đi hia, uy nghi ngồi trên ngai vàng, các quan tứ trụ và những hoàng thân, quốc thích được đứng hai bên trong điện, còn toàn bộ các quan đều sắp hàng đứng ở ngoài sân theo phẩm trật như đã nêu trên. Những buổi thiết đại triều thường tổ chức rất sớm, khi mặt trời lên thì thường đã xong

Thursday, April 30, 2015

Những địa danh có chữ Trường ở Huế

Du Lịch Huế - Năm 1786, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đánh tan quân Trịnh và đến năm 1789 lên ngôi hoàng đế lấy Phú Xuân làm kinh đô. Trải qua gần 200 năm, các làng quê nông nghiệp Thụy Lôi, Hà Khê…của huyện Hương Trà đã chuyển mình đô thị hóa trở thành một trung tâm quân sự, hành chánh, kinh tế, văn hóa của Ðàng Trong và của cả nước từ thế kỷ 17. Các công trường ra đời trong bối cảnh ấy, về sau trở thành địa danh như Trường Cỡi, Trường Ðá, Trường Ðồng…
Ở đây, “Trường” có nghĩa là khoảng đất rộng rãi, chỗ tụ họp, chỗ xảy ra việc gì, trường học, trường thi, chỗ nhiều người tụ họp chính là những công trường, trường thi…ra đời sớm muộn khác nhau nhằm đáp ứng và phục vụ nhu cầu xây dựng phát triển của đô thị Phú Xuân-Huế, cũng có trường hợp mang ý nghĩa lịch sử…về sau trở thành địa danh làng xóm đến nay vẫn tồn tại tên gọi song đã phủ lên lớp bụi thời gian, tầng văn hóa mới. Dưới đây là một số địa danh:

TRƯỜNG CỠI

Thôn Trường Cỡi (còn phát âm trại là Cưỡi) nay thuộc phường Trường An, thành phố Huế; đông giáp làng An Cựu, tây giáp ấp Bình An (đất cũ làng Phú Xuân), nam giáp đất làng Phước Quả; nguyên thuộc làng Dương Xuân của huyện Hương Trà, về sau (năm 1835) thuộc huyện Hương Thủy.

Buổi đầu, nơi đây là một trong ba phường ấp thợ dệt hàng tơ thời các Chúa Nguyễn, , điều này đã được Quế Ðường Lê Quý Ðôn ghi chép trong sách Phủ Biên Tạp Lục rằng: “ huyện Hương Trà có phường làm nghề dệt hàng tơ ở phía sau Phủ Cam, phía đông nam sông Phú Xuân, về địa phận 3 xã Sơn Ðiền, Dương Xuân, Vạn Xuân, chia làm 3 ấp, mỗi ấp 10 nhà, mỗi nhà 15 thợ dệt”.

Ở Sơn Ðiền, đến thời Cảnh Thịnh (1744) xuất hiện nghề đúc đồng. Làng Vạn Xuân lại chịu cảnh di dời để lấy đất dựng kinh thành thời Gia Long, năm 1803. Duy chỉ có 150 thợ dệt ở Dương Xuân, sau Phủ Cam là ổn định, do đó đã tồn tại thôn Trường Cỡi mặc dù về sau nghề thủ công dệt tơ ở đây không còn nữa.

TRƯỜNG ÐÁ

Quá trình xây dựng các công trình kiến trúc ở thủ phủ, đô thành Phú Xuân có thời gian dài và qui mô rất lớn, vì vậy đòi hòi phải có nhiều đội thợ chuyên môn khai thác đá phục vụ nhu cầu. Ở làng Nguyệt Biều có một vùng đá tự nhiên, lại cách bờ sông Hương không xa do đó đây là nơi thuận tiện trong việc khai thác đá. Lính thợ đến công trường đá làm việc dài ngày tổ chức sinh hoạt ăn uống tại chỗ, về sau việc khai thác giảm dần cho đến khi chấm dứt vì cạn nguồn nguyên liệu, thợ đá cùng gia đình định cư luôn tại chổ, dần dà thu hút những người khác đến ở, về sau sau thành thôn ấp, vẫn lấy tên Trường Ðá.



TRƯỜNG ÐỒNG

Trưòng Ðồng là nơi cất giữ các loại phế liệu đồng của phường Ðúc ở bờ nam sông Hương bấy giờ, do nhu cầu đúc súng và đồ gia dụng, thờ phụng ở thủ phủ, đô thành Phú Xuân; các phường Ðúc ấy là 2 thôn “Phan Xá và Hoàng Giang” huyện Khang Lộc khéo đúc súng. Họ Nguyễn lấy 60 người ở Phan Xá đặt làm 2 ty thợ “Tả súng, hữu súng, 12 người chánh ty quan, 40 người lính…lấy 40 người của Hoàng Giang đặt làm ty thợ nội súng; trong đó có 1 người thủ hợp, 1 người ty quan…” (PBTL, tr. 357) gọi là thợ Bản Bộ; lại có “phường Ðúc ở bờ nam sông Phú Xuân, đều là người khách kiều cư ngụ lộn xộn cũng biết đúc súng đồng và vạc, chảo, nồi, cây đèn, cây nến, mọi vật”(PBTL, tr.358) gọi là thợ Kinh Nhơn. Các Ty Pháo tượng đều được tổ chức vào năm Tân Mùi (1631) thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên.

Trường Ðồng nay là một xóm cư ngụ thuộc địa bản phường Phường Ðúc, thành phố Huế.

TRƯỜNG SÚNG

Tháng 9 năm Ðinh Mão (1747) Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát cho lập Trường Súng. Trước đó tháng 3 năm Ðinh Tý (1696) Nguyễn Phúc Chu đã cho lập Trường Pháo ở phủ sau, và cũng đã lập Trường Súng tập dợt vào năm 1701, song việc xây dựng Trường Súng cố định thì đến 1747 mới chính thức khai triển.

Ðịa điểm Trường Súng ở bờ nam sông Hương, gần cửa sông An Cựu chảy vào sông Hương, nguyên là đất xứ Lâm Lộc làng Phú Xuân, nay thuộc địa bàn phường Phường Ðúc, thành phố Huế.

TRƯỜNG TIỀN

Ðây chính là nơi đúc tiền, lập ra vào thời điểm quân Trịnh chiếm đóng Phú Xuân. Công trường đúc tiền này chỉ hoạt động một lần duy nhất, kéo dài hơn 4 tháng ở bên ngoài dinh trấn, cạnh bờ sông Hương thuộc địa phận làng Phú Xuân (Thụy Lôi) nhưng kể như là một sự kiện đâc biệt, một công trường lớn, huy động nhiều người…do đó khắc đậm dấu ấn trong đời sống xã hội, địa danh Trường Tiền ra đời trong b61i cảnh ấy và tồn tại lâu dài cho đến ngày nay.



Năm Thành Thái 9 (1897) làm cầu tại địa điểm này, dân gian bèn gọi ngay là cầu Trường Tiền. Năm Thành Thái 11 (1899) lập phố Trường Tiền:”từ cầu Gia Hội phía nam đến cầu Trường Tiền và dãy trại dài phía đông nam kinh thành, đều thuộc phường Ðệ Nhất. Năm 1899, phân chia đất cho quan dân, ai muốn nhận phần đất cất phố thì mỗi người nhận làm 1 sở, tường phố liên lạc dài thẳng một dây, người Tàu ở xen kẻ buôn bán, so sánh với các phố khác thì trù mật hơn. Trước mặt phố đắp đường quan, dân chúng qua lại, xe ngựa dong ruổi, giữa đô thị có cảnh trí xe chạy đụng bánh, người đi chen nhau vậy!”.

Ðịa danh Trường Tiền nay là khu vực chợ Ðông Ba, phố Trần Hưng Ðạo, thuộc phường Phú Hòa, thành phố Huế.

TRƯỜNG THI

Buổi đầu khai khẩn xứ Ðàng Trong, công việc bề bộn, chuyên thi cử học hành chưa sắp xếp tổ chức chu đáo được. Từ năm 1632, chúa Nguyễn Phúc Nguyên cho duyệt tuyển lính, 6 năm 1 lần tuyển lớn, 3 năm 1 lần tuyển nhỏ. Ba huyện Hương Trà, Quảng Ðiền, Phú Vang đặt một trường. Mỗi khi đến kỳ tuyển lớn thì thông báo cho học trò các huyện đều đến trân dinh để khảo thí một ngày. Phép thi dùng một bài thơ 1 đạo văn sách, hạn trong một ngày phải làm xong, lấy tri phủ, tri huyện làm sơ khảo, ký lục làm phúc khảo. Người thi trúng tuyển thì cho làm Nhiêu học được miễn thuế 5 năm: được gọi là “thi quận vào mùa xuân” (TB, tr. 62,63).



Ðịa điểm tổ chức Trường Thi này ở Cồn Hến, một cồn lớn, rộng rãi, giữa sông Hương nằm bên trái trước mặt phủ Phú Xuân, nay thuộc phường Giang Hến, ấp Bồi Thành của phường Vỹ Dạ, thành phố Huế. Năm 1775, có ghi rõ nơi này là “Thi trường lục niên nhất khoa”. Về sau, Trường Thi dời địa điểm đến nhiều nơi như ở phường Ninh Bắc, làng An Ninh, làng La Chữ, phường Tây Nghị trong kinh thành…song đây là Trường Thi đầu tiên và được tổ chức nhiều khoa thi từ thế kỷ 17 ở đô thành Phú Xuân thời các chúa Nguyễn.

Ngoài các công trường nói trên, còn có các xưởng thuyền, kho thóc, ngành nghề thủ công ở Mậu Tài, Phú Bài, Cầu Hai, Ðốc Sơ, Võng Trì, Lại Ân, Tiên Nộn, Phước Tích, Mỹ Xuyên, Hiền Lương… đã góp phần sản xuất nhiều của cải và đồng thời quy tụ, huy động nhiều thợ ở nhiều địa phương khác nhau về ở thủ phủ, đô thành Phú Xuân, làm cho mảnh đất nông nghiệp truyền thống này sinh động, linh hoạt hẳn lên làm căn bản cho giai đoạn phát triển đô thị cổ Phú Xuân-Huế vào thế kỷ 19.

Tuesday, April 28, 2015

Một chuyến hành trình đến A Lưới

Du Lịch Huế - Trong lúc cả nước đang hướng về đất Tổ để tưởng nhớ các vị vua Hùng ngày mồng mười tháng ba, chúng tôi lại quyết định tổ chức một chuyến đi về phía tây tỉnh Thừa Thiên Huế để chứng kiến cuộc sống của con cháu của một trong 50 người con của dòng giống Lạc Hồng đã chia tay người anh cả để rồi đến định cư tại vùng cao A Lưới.

Sau khi vượt qua những con dốc cao và những đoạn đường ngoằn ngoèo, chúng tôi đã đặt chân đến địa phận của huyện A Lưới. Khung cảnh hiện ra trước mắt chúng tôi là những ngọn núi, những con đèo tiếp nối nhau rồi lên cao, cao vút. Hai bên đường là những cánh rừng trồng và những cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn như nối tiếp nhau chạy dài đến vô tận.


Dốc Kim Quy


Nếu thay những cây tràm bằng cánh rừng thông thì người ta cứ ngỡ rằng đây là đoạn dốc cuối đèo Liên Khương của Đà Lạt


Từ trên cao nhìn xuống, công trường thủy điện A Lưới đang thi công. Hi vọng trong thời gian sắp đến Huế sẽ không còn bị cắt điện luân phiên.

Khi chưa chiếc cầu bên kia, con đập tràn này đóng một vai trò rất quan trọng trong tuyến giao thông từ Huế lên A Lưới. Tuy đã bị sạt lỡ nghiêm trọng nhưng vẫn không có một dấu hiệu cảnh báo nguy hiểm.

Rời những con dốc mềm, đèo A co hiện ra trước mắt chúng tôi. Đèo A Co được xem là con đèo cao nhất và nguy hiểm nhất trong tuyến đường quốc lộ 49 nối liền Huế đến A Lưới. Càng lên cao, con đường càng hẹp dần, mức độ nguy hiểm cũng từ đó mà tăng lên. Một bên là triền núi với những đoạn ta luy cao vút như có thể sạt xuống và lấp lấy con đường, phía bên kia là vực sâu thăm thẳm. Khung cảnh nhày càng trở nên hùng vĩ.







Từ trên đèo A Co nhìn xuống

Đổ đèo A Co một quãng, một con đường bằng phẳng dẫn chúng tôi đến ngã ba Sơn Thủy - Nơi tiếp giáp giữa quốc lộ 49 và đường Hồ Chí Minh. Dọc theo con đường Hồ Chí Minh theo hướng Bắc khoảng 7 km, chúng tôi đã về đến thị trấn A Lưới. Thị trấn A Lưới là một thung lững dài và hẹp có diện tích khoảng 1350 hecta nằm dọc theo trục của tuyến đường Hồ Chí Minh với dân số khoảng hơn 6 ngàn trong đó đa số là người Kinh lên đây định cư. Xung quanh thị trấn về phía Tây, phía Bắc và phía Nam của thị trấn là các bản làng của đồng bào dân tộc Pa Koh, Tà Ôi, Bru - Vân Kiều thuộc các xã lân cận như A Ngo, Hương Lâm, A Đớt, Hồng Kim, Hồng Thượng,...




Toàn cảnh thị trấn A Lưới nhìn từ trên cao

Chúng tôi dừng chân nghỉ lại tại ngôi nhà nhỏ của một thầy giáo từ Huế lên đây công tác. Nhìn ra xung quanh, đất đai vùng này không mấy ưu ái cho nông nghiệp duy chỉ có khí hậu mát mẻ của vùng cao nên hoa lá đua nhau khoe sắc. Ngoiaf thành phần cán bộ Nhà nước được hưởng các khoản ưu đãi, trợ cấp vùng miền nên cuộc sống có phần sung túc thì đời sống của đại đa số đồng bào ở đây vẫn chưa thoát khỏi cái nghèo.


Một vài loại cây trồng không mang lại giá trị kinh tế cao

Một số khoảng đất trũng trồng được lúa nước còn lại là lúa nương




Rực rỡ sắc màu


Đoàn người vào rừng kiếm củi trong đó có cả những em bé vừa lên tám, lên mười


Buổi chiều, chúng tôi lần theo con đường Hồ Chí Minh về phía Nam để tận mắt chứng kiến cái hầm đường bộ do người Việt Nam tự thiết kế và thi công ở xã A Roàng. Rời xa thị trấn khoảng vài km, cái cảnh sung túc dần tan biến, thay vào đó là những bản làng vẫn còn xác xơ của đồng bào thiểu số. Hết Hồng Thượng đến Hương Lâm, một xã được xem là nghèo nhất huyện A Lưới. Đã thế, vùng đất này còn phải gánh chịu hậu quả của chiến tranh. Đâu đó dưới lòng đất này, trong những thớ đất, những mạch nước xung quanh sân bay A Sầu là chất độc màu da cam (Dioxin) còn đọng lại. Cảnh đập lúa và tuốt lua bằng tay ở vùng xuôi giờ đây hiếm ai trông thấy nhưng ở đây dường như là phổ biến. Trẻ con và thanh niên ở đây cũng chẳng có gì để giải trí ngoài việc tụm năm tụm ba ngồi ở vệ đường nhìn xe cộ qua lại.



Một bản làng của đồng bào thiểu số

Một ngôi nhà bắt gặp trên đường


Có thể đây là ngôi nhà đẹp nhất ở trong vùng

Xe chúng tôi lại tiếp tục lăn bánh, càng về chiều trời càng se lạnh, khung cảnh làng mạc giờ đây được thay thế bằng những cánh rừng nguyên sinh. Không khí ngày càng trở nên ẩm ướt. Trên đầu chúng tôi bắt đầu
xuất hiện những làn sương trắng mỏng. Hai bên đường, khu rừng nguyên sinh với những cây cổ thụ xếp thành từng tầng, tán vươn ra như ôm chầm lấy nhau. Bên dưới là những cây dương xỉ thân gỗ có tuổi đời chắc phải đến hàng chục năm.








Rừng nguyên sinh Đông Trường Sơn

Đến đỉnh đèo, sương mù như phủ kín cả lối đi. Những chiếc áo ấm giữa mùa hè đã được phát huy tác dụng. Trong lúc ở Huế mọi người phải sống trong cái nóng oi bức, thêm vào đó là việc cúp điện luân phiên làm cho
cái nóng gay gắt càng gây thêm cảm giác ngột ngạt thì chúng tôi lại được tận hưởng cái se lạnh của mùa đông trên núi cao. Sương mù đọng lại thành giọt hay là mưa phùn ? Cũng khó mà phân biệt được. Thế rồi cửa hầm cũng hiện ra




Hầm đường bộ A Roàng

Khung cảnh vắng lặng, không một bóng người. Trạm thu phí bỏ hoang vì không phát huy được tác dụng. Chúng tôi cố gắng tìm cái bảng ghi những thông tin về hầm nhưng cũng chả có, chỉ có một cái cột bê tông đang nằm chờ để được gắn biển. Không có điện, miệng hầm tối om, đen ngòm và sâu thẳm. Cảnh vật vắng vẻ đến rợn người. Phía vách bên kia là dấu tích của CLB Sài Gòn CD. Họ cũng đã có lần đặt chân đến nới này.


Bút tích của SCDG

Sau một phút ngần ngại, chúng tôi quyết định đi sang phía bên kia. Theo thông tin mà chúng tôi nắm được, xã A Roàng, A Đớt là những xã cuối cùng của huyện A Lưới nên có thể vượt qua cái hầm tối om này là chúng tôi đã đặt chân lên đất của tỉnh bạn.


Từ trong hầm A Roàng

Đặt chân lên đất Quảng Nam

Sang phía bên kia, sương mù dày đến nỗi chỉ đứng cách nhau khoảng chục mét là không nhìn thấy mặt nhau. Trời cũng đã xế chiều nên chúng tôi quyết định quay trở về để nghỉ ngơi và chuẩn bị cho chương trình buổi tối. Ngược gần 40 cây số, chúng tôi trở lại thị trấn A Lưới, trời cũng đã nhá nhem. Chủ nhà, khách và một vài người bạn lần đầu tiên gặp gỡ cũng đã có mặt đông đủ. Xưng bạn bè cho thân tình nhưng thực ra có rất nhiều thành phần, thuộc nhiều thế hệ, lớn có, nhỏ có, thầy có, trò có thậm chí có cả lãnh đạo huyện cũng đến chung vui cùng chúng tôi. Ai có thịt đem thịt, ai có bia mang bia. Thế là chúng tôi có một bữa tiệc rất đầm ấm.

Monday, April 27, 2015

Đại ngàn Bạch Mã

Du Lịch Huế - Bạch Mã là vườn quốc gia trên dãy núi cùng tên thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế. Truyền thuyết kể rằng ngày xửa ngày xưa, các vị tiên thường cưỡi ngựa trắng xuống núi đánh cờ, bởi cảnh trần đẹp chẳng kém tiên

Khi các tiên ông ngồi tỉ thí, ngựa mải mê tìm cỏ non tơ. Đợi ngựa không được, các tiên ông phải bay về trời. Đàn ngựa ngơ ngác, lang thang khắp núi, hóa thành những đám mây hệt như ngựa trắng, quanh năm chờ chủ. Tên gọi Bạch Mã bắt nguồn từ đó.

Có địa thế cực kỳ thuận lợi, Bạch Mã ở độ cao trung bình 1.450 m, sát dãy Trường Sơn và cách biển chỉ 10 km nên khí hậu dễ chịu nhất so với các vùng cùng độ cao trên khắp Đông Dương. Với diện tích 37.487 ha, Bạch Mã còn giữ được khá tốt rừng nguyên sinh bạt ngàn với những thảm thực vật đa dạng (2.147 loài) và hệ động vật phong phú (hơn 1.500 loài). 93 loài có tên trong sách đỏ Việt Nam và thế giới. Từ 1932, Girard, kỹ sư trưởng ngành cầu đường, người Pháp, khi đặt chân đến Bạch Mã đã kinh ngạc đến sững sờ trước thiên nhiên kỳ thú.

Năm 1936, Bạch Mã trở thành khu nghỉ dưỡng tuyệt vời với 139 biệt thự cổ kính, sang trọng, tĩnh lặng, có cả hồ bơi, cửa hàng Chaffanjon, 2 khách sạn Morin và Bany. Ban đầu chỉ có đường đi kiệu, sau thêm đường ô tô. Hệ thống đường đất thô sơ uốn lượn, luôn rợp mát bóng cây nối các biêt thự với công viên Rừng, vườn Ca Hát. Cũng năm này, vua Bảo Đại và quốc vương Monivong (Campuchia) đã hỗ trợ tài chính để thành lập Trại Trường Bạch Mã, huấn luyện huynh trưởng hướng đạo cho Đông Dương. Bằng Rừng (Wood Badge) Bạch Mã là đẳng cấp chất lượng của các trưởng hướng đạo châu Á, niềm tự hào của các huynh trưởng Việt Nam. Đến năm 1945, Trại Trường Bạch Mã ngưng hoạt động. Nhiều cán bộ cách mạng cao cấp từng tốt nghiệp Bằng Rừng Bạch Mã giai đoạn 1938-1944. Trong xu thế hội nhập, hướng đạo Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng là Hội trưởng danh dự năm 1946, rất cần được công nhận và phục hồi hoạt động của Trại Trường Bạch Mã.



Ảnh: Lưu Quang Phổ


Thiên hạ nói “Xem cây vào Cúc Phương, ngắm thú đến Cát Tiên, tắm thác lên Bạch Mã”. Bạch Mã có nhiều thác đẹp như thác Hoàng Yến, Trĩ Sao, thác Bạc, Ngũ Hồ... Nổi tiếng hơn cả là thác Đỗ Quyên cao 300 m, được xem là thác cao nhất ASEAN, như cố níu trời xuống gần hơn với đất bởi những con rồng trắng oai phong, mềm mại bay lượn giữa rừng xanh. Thác như một đài nước khổng lồ nên có tên gọi là Chateau D’ Eau, người Việt gọi là “Xa Tôi Đô”. Còn dân gian gọi là thác Đỗ Quyên bởi quanh thác là những thảm đỗ quyên quanh năm rực rỡ. Đỗ quyên là loài hoa đặc trưng của Bạch Mã, quốc hoa của Nepal, xứ sở sinh ra thái tử Tất Đạt Đa (Đức Phật) tại vùng Lumbini. Đỗ quyên là một trong 338 cây thuốc nam đa dụng ở Bạch Mã, có nhiều tên gọi khác nhau như: sơn thạch lựu, ánh sơn hồng, mãn sơn hồng, báo xuân, thanh minh, sơn trà... Tùy theo màu hoa mà gọi là tử quyên - đỏ tía, hồng quyên - đỏ nhạt, bạch quyên - trắng, hoàng quyên - vàng. Hoa đỗ quyên dịu dàng, nữ tính; được nhiều người thích trồng. Tặng hoa đỗ quyên thay lời nhắn nhủ “Nhớ chăm sóc và giữ gìn sức khỏe” (Take care of yourself for me).

Lên Bạch Mã, khoái nhất là đi bộ dọc theo những đường mòn mang dấu ấn đặc thù như Trĩ Sao, Đỗ Quyên, Ngũ Hồ, Vọng Hải Đài, Chò Đen... Thử sức dẻo dai thì trèo 689 bậc thang lên đỉnh thác, ngắm dòng sông Yến thơ mộng, dịu hiền với những thảm xanh rực rỡ đỗ quyên đủ màu khoe sắc; nghe dàn nhạc nước khổng lồ hòa tấu réo rắt, hoành tráng. Thích nhất là lên Vọng hải đài, điểm cao lý tưởng để thưởng ngoạn toàn cảnh Bạch Mã. Xa xa là hồ Truồi rộng 400 ha, mơ màng xanh và Thiền viện Trúc Lâm sừng sững, ẩn hiện. Đầm Cầu Hai như mặt gương biếc vô tận. Đầm rộng hơn 11.200 ha. Nhiều người cứ tưởng đầm Cầu Hai (phía nam Huế, dưới chân núi Bạch Mã) là phá Tam Giang (phía bắc Huế). Tôi cũng thích ngụp lặn trong dòng nước ngọc bích, mát rượi của Ngũ Hồ vào mùa hè. Có thể tắm hồ nào cũng được, không sợ ướt quần áo. Chỉ cách nhau đèo Hải Vân, cùng độ cao mà Bạch Mã và Bà Nà quá nhiều khác biệt. Bà Nà chỉ có hoa địa lan và rất ít nước. Còn Bạch Mã, nước tràn trề, hoa đủ loại, chỉ riêng đỗ quyên cũng đã hơn chục loài khoe sắc. Đến Bạch Mã, tôi thường rủ vài bạn tri âm, tản bộ dưới rừng rồi sà vào các thác nhỏ ven đường tắm tiên. Dòng thác mát rượi, massage khắp cơ thể, hiệu quả hơn bất cứ tiệm massage nào, lại không tốn tiền vé, tiền bo. Chỉ tội hồi hộp, vừa tắm vừa canh chừng, sợ bọn khỉ ra lấy trộm quần áo thì hết đường về.

Động vật ở Bạch Mã có nhiều loài cực hiếm như gà lôi lam màu trắng, trĩ sao (có con dài tới 2 m cả đuôi, cao gần 0,5 m), sao la... Riêng chim có 333 loài, là điểm hẹn thú vị của dân mê chim. Đặc biệt có “quái kiệt” Trương Cảm, được xem là nhà chim học. Gọi là quái kiệt bởi anh có thể nói được mấy chục “ngoại ngữ” chim và thú. Được anh làm hướng dẫn viên rừng là nhất. Anh có thể giả tiếng chim, thú để “gọi bạn, gọi tình, lạc đường, lẻ loi, thách đấu, tranh chấp lãnh thổ, hốt hoảng, báo tin dữ, lúc da diết, lúc tuyệt vọng, lúc hừng hực...”. Nếu hóa trang kỹ bằng cây xanh, nghe anh “nói”, nhiều loài chim và thú cứ tưởng đồng đội, sà xuống hoặc nhào đến làm quen. Anh thuộc Bạch Mã như lòng bàn tay mình, kể vanh vách từng loại cây, loại con với những tập tính hoặc tác dụng cụ thể. Nhiều loại mới nghe lần đầu như: nam trường sơn, thổ phục linh, thạch xương bồ, bướm bạch, bạch hoa thiết xà... Có cả loài dương xỉ 2 loại lá khác nhau trên cùng một cây gọi là lá sinh trưởng và lá tăng trưởng. Đến Bạch Mã, tôi mới biết chim Chrao của bà con Tây nguyên là chim chèo bẻo. Loài chim được mệnh danh là “dũng sĩ”, nhỏ nhưng đoàn kết và dũng mãnh, sẵn sàng đánh bại cả những loài to hơn gấp mấy lần. Tôi cũng biết thêm cây K’ nia là cây cày, cây X’nu họ thông, cây khộp họ dầu, cây P’lang là mộc miên hay hồng miên thuộc họ gạo...

Quái kiệt, hiền như đất, dễ thương như cây cỏ. Thuở bé, cậu bé Cảm từng là tay săn thiện chiến chuyên trộm chim và thú của rừng. Bị kiểm lâm giả dạng người mua bắt quả tang, bé Cảm sợ xanh mặt. Thấy cậu bé thật thà chứ không ma lanh, anh em muốn cảm hóa. Có người đùa dọa: “Mày còn bé, nhưng bắt trộm chim quý là trọng tội. Ít nhất cũng vài năm tù treo”. Cảm òa khóc tức tưởi rồi mếu máo: “Mấy chú phạt tù mấy năm con cũng chịu nhưng xin đừng treo con lên. Treo một ngày cũng chết. Làm sao chịu nổi mấy năm?”. Anh em kiểm lâm xoa đầu Cảm và cười. Bé Cảm “giã từ dĩ vãng”, trở thành kiểm lâm nhí từ đó. Chịu khó học hỏi, chí thú làm việc, cộng với nhiều tài vặt thuở giang hồ và năng khiếu bẩm sinh, Cảm là “sao” của kiểm lâm Bạch Mã. Đang học năm thứ 2 Đại học Nông lâm Huế, Cảm được học bổng du học tại Pháp, nghiên cứu về chim. Các giáo sư và sinh viên các nước kinh ngạc trước khả năng nói tiếng chim của Cảm. Tại đây, Cảm càng có dịp học thêm “ngoại ngữ” các loài chim lạ. Đến Bạch Mã, nhất định phải làm quen với nhà chim học, nhờ anh dạy vài chiêu dụ chim và theo anh vào rừng để có thêm bồ kiến thức. Tôi nghĩ anh xứng đáng được trao kỷ lục Guinness “người biết nói nhiều tiếng chim nhất” của ASEAN.

Biệt thự ở Bạch Mã kiến trúc kiểu châu Âu, mỗi căn có 2 tầng với từng nét riêng độc đáo, được đặt tên theo các loài động thực vật đặc hữu của rừng. Cả khu nghỉ dưỡng tuyệt đẹp bị hoang hóa do chiến tranh và thời gian tàn phá. Nhưng sự hủy hoại của “sự dốt nát chân thật” (nhà thơ Trần Việt Phương) mới đáng sợ. Các biệt thự, cảnh quan nhân tạo và Trại Trường Hướng Đạo bị xâm hại trầm trọng. Sau năm 1994, Bạch Mã bắt đầu khôi phục, sửa sang lại đón khách du lịch. Do có nhiều khó khăn, bất cập về đường sá, kinh phí nên dù hết sức cố gắng, Bạch Mã vẫn chưa thể hồi phục hoàn toàn, chưa kể có những biến tướng đáng quan ngại. Khuynh hướng bê tông và thương mại hóa đang lấn át nên khó lòng giữ được môi trường thiên nhiên ban đầu. Chạy theo trào lưu du lịch tâm linh, Vọng hải đài biến tướng thành chùa với những tranh ảnh mê tín, xa lạ với phật pháp. Việc đóng cửa từ tháng 12.2009 - 3.2013 để đại tu và làm mới Bạch Mã đang dấy lên nhiều lo lắng.

Bạch Mã là mỏ vàng du lịch, nếu cải tạo vẫn cần phải giữ nguyên vẹn những nét đẹp hoang sơ thưở ban đầu. Bằng không, chỉ còn là điểm du lịch thuần túy xô bồ, tạp nham. Một khi hệ sinh thái thay đổi, chim và thú bỏ đi, liệu Bạch Mã có còn là đại ngàn Ngựa Trắng hay chỉ là hoài niệm buồn. Hy vọng những linh cảm của tôi không chính xác. Bạch Mã sẽ lột xác, đáng yêu và dễ thương hơn, tiện nghi hiện đại nhưng vẫn giữ được hồn Bạch Mã đại ngàn.

Theo Phượt thủ Nguyễn Văn Mỹ

Hình ảnh mãng xà hiếm thấy trên Cửu đỉnh nhà Nguyễn

Du Lịch Huế - Huế là kinh đô cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam. Trải qua 143 năm (1802-1945), vương triều Nguyễn đã để lại nhiều công trình văn hóa có giá trị trên vùng đất Phú Xuân (cố đô Huế ngày nay). Một trong những công trình tiêu biểu trong tổng thể các giá trị văn hóa mà vương triều Nguyễn để lại chính là Cửu đỉnh (9 cái đỉnh lớn).

Đó là một công trình đồ sộ được đặt trong đại nội Huế. Đến nay, Cửu đỉnh vẫn còn rất nguyên vẹn được đặt trước Hiển Lâm các, đối diện với Thế miếu. Cửu đỉnh là một cuộc triển lãm những tác phẩm mỹ thuật rất tinh tế của những nghệ nhân tài hoa, là biểu tượng cho sự giàu đẹp, thống nhất của đất nước và ước mơ triều đại mãi vững bền, hùng mạnh.

Tất cả 153 mảng hình trên Cửu đỉnh là 153 bức chạm độc lập, hoàn chỉnh, là sự kết hợp điêu luyện giữa nghệ thuật đúc và chạm nổi đồ đồng nước ta, giữa văn hóa dân gian và văn hóa bác học hồi đầu thế kỷ XIX.

Mỗi đỉnh khắc 17 hình ảnh khác nhau không trùng lắp và có chú thích bằng chữ Hán, mỗi họa tiết không chỉ đơn thuần là những đường nét chạm khắc tinh tế mà đó còn là những tác phẩm nghệ thuật độc đáo. Cửu đỉnh được coi là bách khoa thư về cuộc sống con người Việt Nam hồi nửa đầu thế kỷ XIX.

Cửu Đỉnh là di sản văn hóa quý hiếm, có giá trị nhiều mặt của văn hóa Huế nói riêng, cả nước nói chung. Đó còn là sản phẩm thể hiện đỉnh cao trong nghệ thuật đúc đồng của nước ta ở thế kỷ XIX.



Hình mãng xà được khắc trên Huyền đỉnh

Cửu đỉnh được đặt tên theo miếu hiệu của các vua triều Nguyễn, mỗi đỉnh ứng với một vị vua: Cao Đỉnh là miếu hiệu của vua Gia Long, được đặt ở chính giữa, tiếp đó là Nhân đỉnh (Minh Mạng), Chương Đỉnh (Thiệu Trị), Anh đỉnh (Tự Đức), Nghị đỉnh (Kiến Phúc), Thuần Đỉnh (Đồng khánh), Tuyên đỉnh (Khải Định). Riêng Dụ đỉnh và Huyền đỉnh chưa kịp có miếu hiệu của vị vua nào thì triều Nguyễn đã sụp đổ.

Sách “Đại Nam thực lục” chép: “Trên Huyền đỉnh, khắc các hình: mưa, cầu vồng, núi Hoành Sơn, sông Tiền Hậu Giang, sông Thao, núi Thúc Thu, con ngựa, con cà cuống, con mãng xà, hoa lan 5 lá, quả vải, cây bông, sâm nam, cây sơn, cây tỏi, cái xe, ống phun lửa, đều 17 loại”. Chúng ta thấy rằng, Huyền đỉnh cũng như tám đỉnh khác đều khắc rất đa dạng về thiên nhiên đất nước với những hình ảnh tượng trưng cho từng vùng miền cũng như những điểm chung của cả nước.

Đặc biệt, trên Huyền đỉnh có khắc hình ảnh con mãng xà (rắn) được thể hiện rất sinh động. Như ta đã biết, rắn là một trong 12 con giáp theo quan niệm địa chi của người phương Đông. Việc được khắc hình ảnh trên Huyền đỉnh cũng đã cho thấy con vật này có một vai trò quan trọng bởi 153 họa tiết được khắc trên Cửu đỉnh đều là những hình ảnh đặc trưng.

Trong bài viết “Những họa tiết trên Cửu đỉnh”, nhà nghiên cứu Dương Phước Thu đã lý giải việc mãng xà được chọn để khắc trên Huyền đỉnh như sau: “Mãng xà, tức con rắn to, thuộc bộ có vảy. Nhiều sách chép là mãng vương xà (vua của loài rắn), theo quan niệm dân gian, rắn là vị thần (thần Lốt) ở miền sông nước. Mãng xà lớn nhất trong loài rắn nên gọi là vương xà; mắt nó tròn, mùa xuân và mùa đông ở trên cạn, mùa hạ và mùa thu ngâm mình dưới nước.

Ở Việt Nam, những tỉnh có vùng bán sơn địa, nhiều sình lầy, đầm hồ, mãng xà thường ẩn cư. Thịt mãng xà có nhiều chất bổ, xương của nó được bào chế để làm thuốc chữa trị tê thấp, gân cốt, rất hiệu quả. Rắn (tỵ) được xếp đứng thứ sáu trong địa chi 12 con giáp”. Đó là những nguyên nhân để vua Minh Mạng chọn hình tượng con mãng xà lớn để khắc lên Huyền đỉnh.

Nhưng việc chọn hình ảnh mãng xà để khắc lên Huyền đỉnh cũng là một ngụ ý rất thâm sâu của vua Minh Mạng, bởi chính loài rắn đã có một chỗ đứng trong lịch sử tồn tại của vương triều Nguyễn mà cụ thể là với vua Gia Long - vị vua đầu tiên của vương triều Nguyễn đồng thời là cha đẻ của vua Minh Mạng. Nguyễn Ánh (vua Gia Long sau này) đã đánh đổ được nhà Tây Sơn để lập ra một vương triều thống nhất (triều Nguyễn).

Nhưng ngược lại lịch sử để thấy rằng, ngôi vị mà Gia Long dành được cũng phải đánh đổi bằng nhiều hiểm nguy. Nguyễn Ánh đã nhiều lần bị quân Tây Sơn truy kích, có lúc tưởng như không thể vượt qua nổi, phải bôn ba hết nơi này đến nơi khác, cuối cùng mới giành được chiến thắng.



Huyền đỉnh (ngoài cùng bên phải) trong Cửu đỉnh có khắc hình mãng xà

Đặc biệt, trong những ngày bôn ba để chống lại sự truy đuổi của nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã được rắn thần trợ giúp. Đó là khi Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn truy kích phải chạy đến mãi vùng biển Hà Tiên - Phú Quốc. Khi bị truy đuổi, Nguyễn Ánh và những người tùy tùng phải đi thuyền nhỏ ra Hà Tiên, Phú Quốc, trong đêm tối không trông thấy gì, tự nhiên có đàn rắn cõng thuyền vượt bể đi tới Hà Tiên.

Sách “Đại Nam thực lục” đã chép sự kiện này như sau: “Năm 1782, vua đến Hà Tiên, đi thuyền nhỏ qua biển. Đêm tối không thấy rõ, ở gầm thuyền hình như có vật gì đội, tang tảng sáng nhìn ra thì đó là một đàn rắn. Người đi theo đều lấy làm sợ. Vua giục cứ đi, một lát thì đàn rắn đi mất”.

Có lẽ vua Minh Mạng đã dựa vào việc vua cha được rắn thần giúp đỡ trong những ngày gian khó mà cho chọn hình tượng con mãng xà để khắc lên Cửu đỉnh. Đó còn thể hiện được tinh thần dù là một người đứng trên tất cả để cai trị thiên hạ nhưng Minh Mạng vẫn không quên công ơn của vua cha cũng như những điều đã giúp vua cha vượt qua khó khăn. Sự tưởng nhớ đó thể hiện vua Minh Mạng là một vị vua có hiếu, luôn tưởng nhớ đến công ơn của vua cha.

Việc cho khắc hình ảnh con mãng xà trên Cửu đỉnh cũng là sự tri ân của vua Minh Mạng đối với thần rắn đã giúp vua Gia Long trong những ngày mà số phận của vương triều Nguyễn đứng giữa làn danh giới mỏng manh tồn tại hay không tồn tại. Dù sự kiện rắn thần hiện lên giúp đỡ Gia Long có hay không nhưng đối với vua Minh Mạng thì việc đó không quan trọng. Trong một thời điểm loạn lạc như vậy, bất cứ sự giúp đỡ nào cũng là điều mà nhà vua không thể bỏ qua.

Trong quan niệm của người phương Đông nói chung và người Việt nói riêng, hình tượng con rắn không được thân thiện như những con vật khác. Nhiều người thường xem rắn là con vật nguy hiểm có thể đe dọa đến tính mạng.

Chính vì vậy mà khi thấy rắn là người ta chỉ muốn đánh chết nên dân gian có câu: “Đánh rắn là phải đánh dập đầu”, hoặc khi nói đến một người không tốt, có tâm địa hiểm ác, người ta lại nói: “Khẩu phật tâm xà”... Sự kỳ thị của nhân gian đối với loài rắn là như vậy nhưng rắn vẫn chi phối nhiều trong đời sống xã hội như dùng rắn ngâm rượu hay dùng rắn để chữa bệnh.

Với vua Minh Mạng, rắn là ân nhân của vương triều Nguyễn. Việc chọn mãng xà để khắc lên Huyển đỉnh trong Cửu đỉnh đã thể hiện vị trí quan trọng của loài vật này bởi có rất nhiều loài vật khác được dân gian có quan niệm tốt hơn nhiều nhưng loài rắn vẫn được chọn để đại diện cho những tinh túy nhất.

Chuyện hình tượng mãng xà được khắc trên Cửu đỉnh là một điều làm cho nhiều người hiếu kỳ muốn khám phá. Qua đó để ta thấy được rằng, loài rắn cũng có một chỗ đứng quan trọng trong đời sống cộng đồng của người Việt. Chúng ta sắp bước sang năm Quý tỵ, điều đó càng làm cho hình tượng mãng xà trên Cửu đỉnh thú vị hơn và để hiểu sâu hơn về sự tri ân của triều Nguyễn đối với loài rắn.

Xây dựng thương hiệu đặc sản gạo đỏ Quảng Điền

Du Lịch Huế - Từ thành công trong việc phục tráng giống lúa gạo đỏ vốn được trồng ở vùng thấp trũng bị nhiễm mặn, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên-Huế đã cho phép Hội Nông dân huyện Quảng Điền đăng ký nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm “Gạo đỏ Quảng Điền.”


Ảnh minh họa. (Nguồn: medlatec.vn)
Trước đây, do năng suất thấp cùng với việc có thêm nhiều giống lúa ngắn ngày được đưa vào sản xuất nên giống lúa gạo đỏ hầu như không còn được trồng.

Năm 2010, trường Đại học Nông lâm - Đại học Huế đã giúp một số hộ nông dân xã Quảng Lợi về giống, kỹ thuật, phân bón để phục tráng thử nghiệm lại giống lúa gạo đỏ trên diện tích 1ha. Đây là lần đầu tiên sau khoảng 20 năm, giống lúa gạo đỏ trồng ở vùng nước nhiễm mặn Quảng Lợi được phục tráng.

Qua khảo nghiệm cho thấy, giống lúa gạo đỏ vẫn giữ nguyên được các đặc tính như thân cao và cứng, phù hợp với điều kiện tự nhiên vùng đất ngập nước nhiễm mặn ở ven cửa sông, đầm phá.

Giống lúa gạo đỏ còn có khả năng chống chịu sâu bệnh rất tốt, không phải sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và hầu như không bị nhiễm bệnh. Hiện nay, gạo đỏ đang được thị trường rất ưa chuộng.

Từ thành công bước đầu, ngành nông nghiệp tiếp tục hướng dẫn nông dân kỹ thuật chăm bón để mở rộng diện tích giống lúa gạo đỏ.

Ông Nguyễn Tường, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Quảng Lợi cho biết đến nay, xã đã phát triển được 7ha giống lúa gạo đỏ ở vũng thấp trũng nhiễm mặn. Mỗi ha cho năng suất khoảng 20 tạ. Tuy cho năng suất thấp hơn nhiều so với các giống lúa ngắn ngày nhưng gạo đỏ lại bán được giá cao hơn gấp từ hai đến ba lần. Mặt khác, gạo đỏ được sản xuất theo quy trình an toàn, chi phí sản xuất lại rất thấp.

Hiện ngành nông nghiệp Quảng Điền hỗ trợ sản xuất thêm 2ha giống lúa gạo đỏ tại Hợp tác xã Tam Giang, xã Quảng Thái. Xã Quảng Lợi cũng đang hỗ trợ người dân tiếp tục mở rộng diện tích trồng lúa gạo đỏ ở đất thấp trũng, ngập mặn ven phá Tam Giang.

Dự án phát triển nông thôn huyện Quảng Điền, chương trình xây dựng nông thôn mới cũng hỗ trợ về kinh phí, giống để mở rộng sản xuất giống lúa gạo đỏ.

Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp đang xây dựng thương hiệu cho đặc sản gạo đỏ Quảng Điền. Đồng thời, phối hợp với các siêu thị, chợ đầu mối trong và ngoài tỉnh để thu mua gạo đỏ cho nông dân.

"Gạo đỏ Quảng Điền" được xem đặc sản vì sản lượng ít, nhưng hạt gạo nhiều dinh dưỡng và được xem là một vị thuốc trong đông y. Do vậy, người tiêu dùng rất ưa chuộng nên bán được giá cao.

Gạo đỏ Quảng Điền thường dùng để nấu cháo, nhất là cho người bệnh. Người ta xay xát lúa sao cho còn lớp cám mỏng quanh hạt gạo để khi nấu cháo hạt gạo ít bị nát và giữ được mùi thơm béo đặc thù.

Với người dân Huế, cháo gạo đỏ ăn với cá bống thệ kho rim là một món ăn độc đáo và rất bổ dưỡng.

Theo Nguyên Lý

Chốn trời đất giao hòa

Du Lịch Huế - Lăng Gia Long nằm ở làng Định Môn (Hương Thọ, Hương Trà), bên dòng Tả Trạch - một hợp lưu của sông Hương. Từ Kinh thành Huế, đây là điểm lăng có vị trí xa nhất. Lăng được xây dựng năm 1814-1820, gồm 8 khu lăng mộ của nhà vua, các hoàng hậu và họ hàng quyến thuộc của vua Gia Long. Toàn bộ khu lăng là một quần sơn với 42 đồi núi lớn nhỏ có tên gọi riêng, trong đó Đại Thiên Thọ là ngọn lớn nhất được chọn làm tiền án của lăng và được dùng để gọi tên chung cho cả quần sơn này. Theo sử cũ, chính thầy địa lý Lê Duy Thanh (con trai nhà bác học Lê Quý Đôn) là người tìm thế đất này.

Tổng thể lăng chia làm 3 khu vực. Phần chính giữa là khu lăng mộ của vua Gia Long và chính phi. Qua khỏi sân chầu với các hàng tượng đá uy nghiêm và 7 cấp sân tế là Bửu Thành ở đỉnh đồi - nơi vua Gia Long và chính phi Thừa Thiên Cao Hoàng hậu được song táng. Bên phải khu lăng là khu vực tẩm điện với điện Minh Thành là trung tâm. Trong điện có thờ nhiều kỷ vật gắn bó với cuộc đời của vua Gia Long như cân đai, mũ, yên ngựa, nay không còn. Bên trái khu lăng là Bi Đình, nay chỉ còn một tấm bia lớn ghi bài văn bia “Thánh đức thần công” của vua Minh Mạng ca ngợi vua cha, được chạm khắc tinh tế.

Cảnh sắc quanh lăng

Từ Kinh thành Huế đến lăng Gia Long, du khách có thể ngược thuyền theo sông Hương (khoảng 18km), hoặc linh động bằng xe máy, xe đạp (chừng 16km) rồi qua bến đò Kim Ngọc. Mỗi ngả đường đều cho du khách những trải nghiệm thú vị riêng. Nếu theo đường sông, du khách sẽ được thả hồn theo sông nước Hương giang, ngắm cảnh chùa Thiên Mụ, Văn Miếu hay núi Ngọc Trản… Nếu là đường bộ, du khách lại được đi giữa những đường làng bình yên của 2 xã Thuỷ Bằng (Hương Thủy) và Hương Thọ (Hương Trà) với những vườn cây trái xum xuê, trù mật. Dọc bãi bồi ven sông là một màu non tươi của ngô và các loại đậu. Sâu vào trong làng là những vườn thanh trà, bưởi. Vào mùa chớm hạ, hương bưởi, hương thanh trà và thoang thoảng hương xoan đưa đến cho du khách cảm giác thư thái sau quãng đường xa.

Đoàn khách đến từ Tây Ninh đang vào thăm lăng Gia Long

Trong những năm qua, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế đã triển khai nhiều dự án trùng tu lăng Gia Long, gồm: phục hồi điện Minh Thành, phục hồi nhà Đông vu, Tây vu, tu bổ mộ vua - hoàng hậu và la thành, kè bờ hồ, trụ biểu chính, đầu tư hệ thống hạ tầng như làm đường, lưới điện, nạo vét thủy hệ nối với sông Hương, khuôn viên, các bậc cấp dẫn lên lăng, bia đá, nhà bia, đường dẫn và cổng tam quan của khu vực điện Minh Thành… Hiện nay, Trung tâm đang thực hiện dự án phục hồi, tu bổ và tôn tạo điện Gia Thành - nơi thờ Thuận Thiên Cao Hoàng hậu, mẹ vua Minh Mạng. Các dự án trùng tu tại lăng Gia Long đã và đang được thực hiện theo hướng kết hợp xây dựng hạ tầng và dịch vụ, từng bước tôn tạo lăng thành khu vực du lịch văn hóa sinh thái hấp dẫn, thu hút khách du lịch.

Hiện nay, số lượng du khách đến lăng Gia Long đang ngày càng được cải thiện đáng kể. Đa phần du khách vượt dặm xa xôi là những người ưa phiêu lưu và ưa tìm về nơi trời đất giao hoà mà hiếm điểm lăng tẩm khác trong quần thể di tích Cố đô Huế có được.
Theo Đồng Văn

Sunday, April 26, 2015

Không “Phật lớn chùa to”, nhưng ai cũng biết..

Du Lịch Huế - Từng được mệnh danh là kinh đô Phật giáo, Huế có mật độ chùa chiền, tự viện tập trung khá dày đặc. Trong đó có nhiều Tổ đình, cổ tự hết sức nổi tiếng như Thiên Mụ, Từ Đàm, Bảo Quốc, Tây Thiên, Từ Hiếu, Vạn Phước, Thuyền Tôn…Cũng tại đất Cố đô này, có một ngôi chùa khác tuy không thuộc loại “Phật lớn chùa to” nhưng hầu như dân Huế ai cũng biết tiếng: Chùa Ba Đồn.
Chùa Ba Đồn nằm trên đường Tam Thai, thuộc phường An Tây, Tp Huế. Ngôi chùa này khá đặc biệt bởi “do các phường nghề (các phổ) tự lập và những người giữ chùa là những người bán thế xuất gia (có gia đình), không có tu sĩ như các chùa khác” (Dư địa chí Thừa Thiên Huế).

Cồn mồ 8 xã

Các tài liệu nghiên cứu cho hay, vào năm 1803, để xây dựng Kinh thành Phú Xuân, vua Gia Long cho giải tỏa 8 ngôi làng ở bờ bắc sông Hương. Số mồ mả không có người nhận được cho dời lên hiệp táng (chôn chung) tại khu vực Ba Đồn bây giờ, gọi là cồn mồ 8 làng. Sau đó, xây dựng đàn Nam Giao và lăng Gia Long, những mồ vô chủ lại được dời tiếp đến đây an táng, tạo thành hai cồn mồ lớn nữa. Năm 1835, vua Minh Mạng cho lập một bàn thờ ở giữa trời (đàn) tại cồn mồ 8 làng đề hằng năm nhà nước tổ chức cúng tế những cô hồn của 8 làng. Về sau, cho dựng thêm hai đàn nữa để cúng tế những cô hồn của cồn mồ thứ hai và thứ ba. Dân chúng gọi ba cồn mồ có ba đàn hằng năm tế lễ đó là Cồn mồ Ba Đàn. Cái tên Ba Đồn có lẽ được đọc trại từ Ba Đàn mà định danh cho đến nay.

Năm Ất Dậu 1885, sau biến cố thất thủ Kinh đô (23 tháng 5 âm lịch), di hài, di cốt của hàng ngàn tử sĩ, dân chúng đã hy sinh, tử nạn trong trận chiến không cân sức với giặc Pháp cũng được đưa lên Ba Đồn hiệp táng và hình thành thêm một số Cồn mồ nữa. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, đó là lý do để có thể xem Ba Đồn là một Nghĩa Trang Liệt Sĩ mở đầu thời chống xâm lược Pháp.



Công chúng, phật tử đến Ba Đồn để nguyện cầu, tưởng niệm…

Dưới thời nhà Nguyễn, việc cúng tế tại Ba Đồn rất được chú trọng. Ngoài lễ tế của triều đình, các phường nghề còn có ngày cúng tế của riêng mình. Dịp tháng 5 âm lịch, tưởng nhớ các anh linh, vong linh trong biến cố thất thủ Kinh đô, Lễ cúng âm hồn do các phổ tổ chức ở Ba Đồn kéo dài cả tuần lễ, bắt đầu từ ngày 23 tháng 5 cho đến cuối tháng 5 âm lịch. Rất nhiều câu chuyện đã được đồn thổi, thêu dệt hư hư thực thực chung quanh khiến cho Ba Đồn nổi tiếng linh thiêng. Một thời gian rất dài, rất nhiều người mong tìm đến đây xin quẻ xăm đầu năm để xem tài vận thế nào trong năm tới…

Năm 2005, nghĩa địa và chùa Ba Đồn được công nhận là Di tích lịch sử cấp tỉnh. Năm ngoái, nhân kỷ niệm 127 năm ngày thất thủ Kinh đô (1885-2012), một đại lễ cầu siêu và tế âm linh cô hồn đã được tổ chức trang trọng tại đây. Đại diện lãnh đạo tỉnh, thành phố Huế, các cơ quan, ban ngành hữu quan và hàng ngàn phật tử, công chúng đã tựu về, dâng nén tâm hương, đồng lòng tưởng nhớ, cầu nguyện…
Theo Diên Thống

Làng nghề thủ công Thừa Thiên-Huế thu hút khách

Du Lịch Huế - Thế mạnh của các làng nghề là các sản phẩm làm thủ công, nên việc trình diễn tại các làng nghề hết sức hấp dẫn và thu hút khách du lịch, đặc biệt là khách nước ngoài.



Nghề rèn sắt. (Nguồn: thuathienhue.gov.vn)

Nắm bắt đặc điểm này, nhiều làng nghề ở Thừa Thiên-Huế vừa tổ chức sản xuất, cải tiến mẫu mã sản phẩm, gắn với hàng lưu niệm, thu hút đông khách du lịch đến với các làng nghề.

Tỉnh Thừa Thiên-Huế hiện có 88 làng nghề truyền thống, với đông đảo đội ngũ thợ thủ công lành nghề, tài hoa. Nhiều nghề trong số đó đi liền với việc xây dựng các công trình di tích Huế như nghề mộc, chạm khắc gỗ, đúc đồng, gốm sứ, luyện sắt, rèn... Nếu biết kết hợp khai thác tiềm năng du lịch làng nghề, đây cũng là thế mạnh thu hút khách du lịch hiện nay của Thừa Thiên-Huế.

Năm nay, trong quy hoạch phát triển các làng nghề gắn với du lịch, tỉnh Thừa Thiên-Huế đầu tư 5,4 tỷ đồng; trong đó tập trung vào hai nhiệm vụ chính là bảo tồn, khôi phục, phát triển các nghề, làng nghề như gốm Phước Tích, mây tre đan Bao La và các làng nghề nón lá (Mỹ Lam, Thủy Thanh, Phong Sơn, Đông Đô), phát triển nghề chế biến dầu tràm, nước mắm và các làng nghề, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp khác; đồng thời hỗ trợ đào tạo nghề cho các cơ sở sản xuất ở các làng nghề.

Một trong những địa điểm thu hút khách du lịch ở Huế hiện nay là cơ sở sản xuất "nón Thuý," ngụ tại tổ 13 phường Phước Vĩnh, thành phố Huế. Chị Nguyễn Thị Thúy đã tạo nên thương hiệu nón lá từ bàn tay tật nguyền.

Sinh năm 1986, ngay từ buổi đầu, cánh tay phải của chị bị dị tật vào đến khuỷu, mọi sinh hoạt, học hành đều sử dụng bàn tay trái. Để không trở thành gánh nặng của gia đình, Thúy chọn cho mình nghề chằm nón, ban đầu chỉ để giúp mẹ và bà ngoại trong một số công đoạn. Vậy mà vượt lên chính mình, Thúy đã thành thạo với nghề và cơ sở sản xuất của chị trở thành điểm đến tham quan cho khách du lịch gần xa.

Trong khi nghề chằm nón ở Huế đang đứng trước nguy cơ mai một, Thúy chọn cho mình cách làm theo hướng du lịch. Khách đến với cơ sở của chị, vừa được xem cô gái chỉ với một tay, nhưng làm nên những chiếc nón xinh xắn, lại có sản phẩm mua về làm quà cho người thân. Khách du lịch tìm đến với cơ sở nón Thúy không chỉ đơn thuần mua về cho mình chiếc nón Huế của đất nước Việt Nam, mà ẩn chứa cả tấm gương của một con người không chịu đầu hàng trước số phận, như nhiều khách du lịch đến đây đã từng ngợi ca.

Cách thành phố Huế chỉ vài cây số, nghề đúc đồng ở phường Đúc lại có cách thu hút khách du lịch theo kiểu "làng nghề." Phường có tới hơn 60 lò đúc với khoảng 150 người làm nghề này. Ngoài các sản phẩm thông thường như đúc Đại hồng chung (chuông đồng cỡ lớn), lư hương, các mặt hàng mỹ nghệ, các cơ sở đúc đồng ở phường đúc còn có thể sản xuất những chi tiết máy dùng trong công nghiệp và những linh kiện có tính chính xác cao.

Các sản phẩm đồng mỹ nghệ, từ khâu lên khuôn, nung chảy và rót đồng đều chủ yếu làm bằng tay nên rất thu hút du khách, đặc biệt là khách nước ngoài. Cũng chính từ đây, giữa khách du lịch và người thợ thủ công có dịp trao đổi để hoàn thiện sản phẩm, như cải tiến, đổi mới mẫu mã, nhằm cho ra thị trường những sản phẩm đẹp mắt, nhỏ gọn hơn so với các sản phẩm bằng đồng khá thô và nặng trước đây

Nhà vườn - nét độc đáo của Huế

Du Lịch Huế - Huế không chỉ nổi tiếng với cảnh sắc thiên nhiên mơ mộng hữu tình với đền đài, miếu mạo, lăng tẩm hay chùa chiền mà Huế còn đặc biệt hấp dẫn bởi những ngôi nhà vườn êm ả thanh bình



Từ lâu, các nhà vườn Huế nổi tiếng là những mảnh vườn xanh tươi bao quanh những ngôi nhà cổ kính. Những ngôi nhà cổ và vườn cây là nơi tiềm ẩn, chứa đựng những tư tưởng, tính cách của con người Huế.

Nhà vườn Huế giống như một tiểu vũ trụ của cuộc sống thường ngày rất dân dã, gắn kết cuộc sống cần cù, nhẫn nại của con người với thiên nhiên. Nhà vườn Huế là một mẫu mực của lối kiến trúc cảnh vật hóa. Đó là những ngôi nhà cổ kính nằm trong mảnh vườn có lối kiến trúc mà những bộ vi kèo chạm trổ hết sức công phu, những bờ nóc, bờ quyết được đắp nổi, những trang trí rồng, mây trông rất đẹp mắt. Nhà vườn Huế được lợp mái bằng một thứ ngói cổ qua thời gian đã phủ lên một lớp rêu xanh cùng hòa lẫn vào màu xanh của vườn cây quanh nhà càng làm cho bức tranh thiên nhiên ở đây thêm phần quyến rũ.



Được xây theo luật “dịch lý” và “phong thủy”, nhà vườn Huế là tập hợp của một hệ thống kiến trúc sắp xếp theo chiều Bắc-Nam. Tuy rộng hẹp khác nhau, nhưng nhà nào cũng có kiến trúc tổng thể giống nhau đó là bao quanh ngôi nhà là hàng rào chè tàu hay hàng dâm bụt được tỉa tót khéo léo trông rất đẹp mắt. Ở mặt sau hàng rào là bụi tre, khóm trúc xanh tốt. Cửa ngõ vào nhà thường xây bằng gạch lát, mái ngói hay bằng gỗ đơn sơ, tiếp đến là bình phong nhỏ bằng gạch hoặc bằng cây, rồi mới đến khoảng sân, hồ sen có bông súng hay bể cạn với hòn non bộ ở trên. Cuối sân là ngôi nhà chính ba gian hay năm gian, hai chái. Chung quanh ngôi nhà là vườn cây gồm các cây cảnh, các loại hoa và cây ăn quả phong phú nhiều chủng loại. Khoảng đất phía sau dãy nhà là vườn để trồng rau, chăn nuôi gia cầm.



Nhà vườn Huế là một tác phẩm nghệ thuật có giá trị thẩm mỹ vừa có hiệu quả kinh tế trong sự hài hòa giữa thiên nhiên và cuộc sống. Thú tiêu khiển của người Huế trong ngôi nhà vườn cũng là một nét văn hóa độc đáo. Phổ biến nhất là hòn non bộ với cảnh núi non thu nhỏ, có hang động, có chùa tháp, có suối, có thác, có người và thú vật, tượng trưng cho cảnh sinh hoạt hay sự tích lịch sử, huyền thoại, cổ tích nào đó.

Ở những nhà khá giả, trong nhà thường có bộ trường kỷ, hai bên là tủ chè, sập gụ, có chưng những món đồ cổ quý giá, thậm chí cả những súc trầm chạm chim muông, hoa trái...



Nhà vườn Huế được phân bổ đều khắp trong kinh thành, nội thành và trải dài ra tận các làng quê ngoại ô; bao gồm hai loại hình chính: thứ nhất là phủ đệ của các ông hoàng bà chúa, quan lại, tầng lớp thế gia vọng tộc và giới văn nhân thi sĩ... tập trung chủ yếu ở khu phố cổ Gia Hội, Kim Long, Vĩ Dạ với hàng trăm tòa phủ; thứ hai là nhà vườn của giới trí thức hay tầng lớp trung lưu khá giả trong xã hội trước đây, với hàng ngàn ngôi vườn san sát ở bốn phường trong kinh thành, miệt vườn Kim Long, Bến Ngự, Nam Giao. Nhà vườn Huế vừa có khung cảnh thiên nhiên, thoáng mát, yên tĩnh lại có các quần thể kiến trúc thu hút du khách khi đến tham quan.



Tại Phường Kim Long (thành phố Huế) hiện còn một hệ thống nhà vườn và nhà kiến trúc truyền thống rất độc đáo, một vùng quê thanh bình ngay giữa phố xá đông đúc... Nhiều tour du lịch sinh thái đã được mở tới đây và chiếm được thiện cảm của du khách, nhất là trong các dịp Festival Huế và đặc biệt là Festival Huế 2008. Ngoài ra, Làng cổ Phước Tích - Huế, ngôi làng nằm bên sông Ô Lâu thuộc xã Phong Hòa, huyện Phong Điền cũng đóng góp vào di sản Huế một nét riêng không lẫn nhưng mang đậm kiến trúc nhà rường truyền thống. Hay các khu nhà vườn An Hiên, vườn Lạc Tịnh, từ đường Ngọc Sơn Công chúa..., Huế còn có rất nhiều nhà vườn nổi tiếng như nhà vườn Ý Thảo, Tịnh Gia Viên, cụm nhà vườn. Tất cả đều là điểm tham quan lý tưởng sẽ làm say đắm lòng du khách mỗi lần đến Huế.

Huyền Không Sơn Thượng - chốn thanh bình nơi cửa Phật

Du Lịch Huế - Huế nổi tiếng không chỉ vì là nơi tập trung những đền đài lăng tẩm của các vua triều Nguyễn, nơi có những ngôi chùa, nhà thờ, đền đài nổi danh, nơi có những con người với danh xưng “người Huế trầm mặc”, mà Huế còn nổi tiếng vì có một thiên nhiên tươi đẹp. Có rất nhiều điểm đến ấn tượng ở Huế, tuy nhiên có một khu du lịch sinh thái tuyệt đẹp mà không phải khách tham quan nào cũng biết, đó là chùa Huyền Không Sơn Thượng.



Cách cố đô Huế chừng hơn 10km về hướng Tây, thuộc thôn Đồng Chầm, xã Hương Hồ, huyền Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Để đến được Huyền Không Sơn Thượng , du khách phải đi qua chùa Thiên Mụ, theo con đường dọc sông Hương, qua Văn Thánh, Võ Thánh, qua cầu Xước Dũ, rồi đi khoảng hơn 1km nữa rồi rẽ phải vào thôn Đồng Chầm. Từ đây, đi tiếp chừng 500m, đường này sẽ cắt ngang đường chính Huế, thẳng trước mặt sẽ thấy một cổng làng Văn hóa thôn Đồng Chầm. Qua cổng làng chừng 200m, nhìn bên phải có một tấm biển chỉ dẫn bởi những mốc đá nhỏ ven đường, tuy chỉ là đá đẽo thô mộc nhưng nét bút ghi rõ danh hiệu chùa lại uyển chuyển đến kỳ lạ, đúng theo lối thư pháp quốc ngữ đang thịnh hành. Những mốc đá đôi khi khuất sau lùm cây bụi cỏ, hoặc chơ vơ ngay bên đường, nhưng nếu tinh ý quan sát sẽ thấy chút hơi hướng của tâm hồn thi sĩ đang mở lòng đón bước chân lạ. Theo lộ trình này gần 3km nữa là đến Huyền Không Sơn Thượng. Do đặc điểm địa lý, đồi tiếp đồi nên đường vào chùa uốn lượn quanh co, đường nay đã được cải tạo, nâng cấp khá thuận lợi cho du khách đến tham quan.



Đặt chân đến Huyền Không Sơn Thượng du khách sẽ bắt gặp một không gian thật yên tĩnh, cảnh quan kỳ ảo đẹp như trong chuyện cổ tích. Một cây cầu gỗ bắc qua dòng suối nhỏ nở đầy hoa súng tím ngát đưa khách vào Thanh Tâm Viên, sân trước tòa Phật điện.



Khuôn viên chùa là một khu vườn xanh ngắt với những cảnh quan kỳ ảo, đẹp như trong chuyện cổ tích. Một cây cầu gỗ bắc qua dòng suối nhỏ nở đầy bông súng tím ngát đưa khách bước vào Thanh tâm viên, sân trước toà Phật điện. Những dò hoa phong lan quí hiếm, được chọn trong 500 giỏ lan quý nuôi trồng ở vườn dưới sân chùa, được thay đổi mỗi ngày, với đủ sắc màu rực rỡ, đua sắc, khoe hương. Những cây sứ, thiên tuế, tùng, bách…cổ thụ hàng trăm năm tuổi, điềm đạm xòe những tán lá rậm rạp, ung dung che chở nắng gió cho những khoảng sân và lối đi lát gạch Bát Tràng màu nâu đỏ. Đây đó, dưới bóng những cây tre ngà lao xao, khu rừng trúc um tùm là những bộ bàn ghế để khách nghỉ chân, tận hưởng sự yên ả thanh bình nơi cửa Phật.

Một quần thể kiến trúc rõ ràng là nơi tu hành song được kiến tạo theo phong cách trang nhã với những hình khối nhỏ xinh bằng tranh tre, gợi lên thi hứng hơn là cảm giác u mặc, và những bức thư họa trang trí trong nội thất khiến ta liên tưởng rõ rệt tới một không gian văn hóa cổ điển hơn là sự nghiêm cẩn chùa chiền.



Bản thân ngôi chính điện cũng không dựng theo lối thông thường với tường, vách, cột, bệ thờ… như các chùa vẫn gặp. Chính điện ở đây là ngôi nhà nhỏ, giản dị, mái thấp và đơn sơ vách gió lùa. Tượng Phật đặt chính giữa gian mà có cảm giác lộ thiên, như hòa thân bất hoại vào vũ trụ, toả tinh thần hỷ xả tới mọi tâm linh, để ngay sau khi dâng hương làm lễ, ta đã có cảm giác thân thuộc với từng góc nhà, từng gốc trúc trong sân chùa. Bên trái là nhà đọc sách, bên phải là nhà sinh hoạt, rải rác phía sau là những căn nhà gỗ nhỏ, nơi xướng họa, tiếp khách của nhà chùa, bộ bàn ghế thấp, bình trà nghi ngút hơi và những cái chén nhỏ sạch sẽ, tạo nên một không gian giản dị mà đầm ấm.. Đi qua khu vườn trúc là đến nơi dành cho những người yêu thích văn chương thi phú tìm đến để đàm đạo, bình thơ, ngắm gió trăng mây núi, là nơi các nhà thư pháp tập họp để luyện bút, phô chữ. Có lẽ vì thế, thư pháp hiện diện khắp nơi, khắc trên đá trong vườn, chạm trên gỗ, trang trọng treo trên tường, ghi trên cột cổng tam quan… Đó là những lời Phật dạy, những điều hay lẽ phải răn đời và răn người, là những cảm xúc bất chợt của các cây bút, là những bài thơ của các nhà thơ nổi tiếng. Nơi đây, dưới gốc cây cổ thụ là bức tượng đá nổi tiếng do cố điêu khắc gia Điềm Phùng Thị tạc, gửi tặng chùa một dáng ưu tư của thiền sư trong bóng núi mây ngàn.

Ở phía sau dãy nhà tăng xá là cả một rừng thông cổ thụ rậm rạp trên ốc đảo giữa hồ Hàm Nguyệt Trì. Đây là nơi diễn ra những cuộc triển lãm thư pháp trong thời gian Huế tổ chức Festival. Trên mỗi cây thông có gắn một cái giá bằng gốc tre. Đêm đêm, những chiếc đèn dầu đặt trên đó tỏa ánh sáng mờ ảo, hư hư thực thực, đầy quyến rũ.



Về Huyền Không Sơn Thượng, giữa đất trời bao la, được trải lòng mình ra với thiên nhiên dân dã, để sống thật với chính mình, gạt bỏ những âu lo, phiền muộn.

Theo Bảo Anh

Nguồn: TTVN