Thursday, April 30, 2015

Những địa danh có chữ Trường ở Huế

Du Lịch Huế - Năm 1786, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đánh tan quân Trịnh và đến năm 1789 lên ngôi hoàng đế lấy Phú Xuân làm kinh đô. Trải qua gần 200 năm, các làng quê nông nghiệp Thụy Lôi, Hà Khê…của huyện Hương Trà đã chuyển mình đô thị hóa trở thành một trung tâm quân sự, hành chánh, kinh tế, văn hóa của Ðàng Trong và của cả nước từ thế kỷ 17. Các công trường ra đời trong bối cảnh ấy, về sau trở thành địa danh như Trường Cỡi, Trường Ðá, Trường Ðồng…
Ở đây, “Trường” có nghĩa là khoảng đất rộng rãi, chỗ tụ họp, chỗ xảy ra việc gì, trường học, trường thi, chỗ nhiều người tụ họp chính là những công trường, trường thi…ra đời sớm muộn khác nhau nhằm đáp ứng và phục vụ nhu cầu xây dựng phát triển của đô thị Phú Xuân-Huế, cũng có trường hợp mang ý nghĩa lịch sử…về sau trở thành địa danh làng xóm đến nay vẫn tồn tại tên gọi song đã phủ lên lớp bụi thời gian, tầng văn hóa mới. Dưới đây là một số địa danh:

TRƯỜNG CỠI

Thôn Trường Cỡi (còn phát âm trại là Cưỡi) nay thuộc phường Trường An, thành phố Huế; đông giáp làng An Cựu, tây giáp ấp Bình An (đất cũ làng Phú Xuân), nam giáp đất làng Phước Quả; nguyên thuộc làng Dương Xuân của huyện Hương Trà, về sau (năm 1835) thuộc huyện Hương Thủy.

Buổi đầu, nơi đây là một trong ba phường ấp thợ dệt hàng tơ thời các Chúa Nguyễn, , điều này đã được Quế Ðường Lê Quý Ðôn ghi chép trong sách Phủ Biên Tạp Lục rằng: “ huyện Hương Trà có phường làm nghề dệt hàng tơ ở phía sau Phủ Cam, phía đông nam sông Phú Xuân, về địa phận 3 xã Sơn Ðiền, Dương Xuân, Vạn Xuân, chia làm 3 ấp, mỗi ấp 10 nhà, mỗi nhà 15 thợ dệt”.

Ở Sơn Ðiền, đến thời Cảnh Thịnh (1744) xuất hiện nghề đúc đồng. Làng Vạn Xuân lại chịu cảnh di dời để lấy đất dựng kinh thành thời Gia Long, năm 1803. Duy chỉ có 150 thợ dệt ở Dương Xuân, sau Phủ Cam là ổn định, do đó đã tồn tại thôn Trường Cỡi mặc dù về sau nghề thủ công dệt tơ ở đây không còn nữa.

TRƯỜNG ÐÁ

Quá trình xây dựng các công trình kiến trúc ở thủ phủ, đô thành Phú Xuân có thời gian dài và qui mô rất lớn, vì vậy đòi hòi phải có nhiều đội thợ chuyên môn khai thác đá phục vụ nhu cầu. Ở làng Nguyệt Biều có một vùng đá tự nhiên, lại cách bờ sông Hương không xa do đó đây là nơi thuận tiện trong việc khai thác đá. Lính thợ đến công trường đá làm việc dài ngày tổ chức sinh hoạt ăn uống tại chỗ, về sau việc khai thác giảm dần cho đến khi chấm dứt vì cạn nguồn nguyên liệu, thợ đá cùng gia đình định cư luôn tại chổ, dần dà thu hút những người khác đến ở, về sau sau thành thôn ấp, vẫn lấy tên Trường Ðá.



TRƯỜNG ÐỒNG

Trưòng Ðồng là nơi cất giữ các loại phế liệu đồng của phường Ðúc ở bờ nam sông Hương bấy giờ, do nhu cầu đúc súng và đồ gia dụng, thờ phụng ở thủ phủ, đô thành Phú Xuân; các phường Ðúc ấy là 2 thôn “Phan Xá và Hoàng Giang” huyện Khang Lộc khéo đúc súng. Họ Nguyễn lấy 60 người ở Phan Xá đặt làm 2 ty thợ “Tả súng, hữu súng, 12 người chánh ty quan, 40 người lính…lấy 40 người của Hoàng Giang đặt làm ty thợ nội súng; trong đó có 1 người thủ hợp, 1 người ty quan…” (PBTL, tr. 357) gọi là thợ Bản Bộ; lại có “phường Ðúc ở bờ nam sông Phú Xuân, đều là người khách kiều cư ngụ lộn xộn cũng biết đúc súng đồng và vạc, chảo, nồi, cây đèn, cây nến, mọi vật”(PBTL, tr.358) gọi là thợ Kinh Nhơn. Các Ty Pháo tượng đều được tổ chức vào năm Tân Mùi (1631) thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên.

Trường Ðồng nay là một xóm cư ngụ thuộc địa bản phường Phường Ðúc, thành phố Huế.

TRƯỜNG SÚNG

Tháng 9 năm Ðinh Mão (1747) Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát cho lập Trường Súng. Trước đó tháng 3 năm Ðinh Tý (1696) Nguyễn Phúc Chu đã cho lập Trường Pháo ở phủ sau, và cũng đã lập Trường Súng tập dợt vào năm 1701, song việc xây dựng Trường Súng cố định thì đến 1747 mới chính thức khai triển.

Ðịa điểm Trường Súng ở bờ nam sông Hương, gần cửa sông An Cựu chảy vào sông Hương, nguyên là đất xứ Lâm Lộc làng Phú Xuân, nay thuộc địa bàn phường Phường Ðúc, thành phố Huế.

TRƯỜNG TIỀN

Ðây chính là nơi đúc tiền, lập ra vào thời điểm quân Trịnh chiếm đóng Phú Xuân. Công trường đúc tiền này chỉ hoạt động một lần duy nhất, kéo dài hơn 4 tháng ở bên ngoài dinh trấn, cạnh bờ sông Hương thuộc địa phận làng Phú Xuân (Thụy Lôi) nhưng kể như là một sự kiện đâc biệt, một công trường lớn, huy động nhiều người…do đó khắc đậm dấu ấn trong đời sống xã hội, địa danh Trường Tiền ra đời trong b61i cảnh ấy và tồn tại lâu dài cho đến ngày nay.



Năm Thành Thái 9 (1897) làm cầu tại địa điểm này, dân gian bèn gọi ngay là cầu Trường Tiền. Năm Thành Thái 11 (1899) lập phố Trường Tiền:”từ cầu Gia Hội phía nam đến cầu Trường Tiền và dãy trại dài phía đông nam kinh thành, đều thuộc phường Ðệ Nhất. Năm 1899, phân chia đất cho quan dân, ai muốn nhận phần đất cất phố thì mỗi người nhận làm 1 sở, tường phố liên lạc dài thẳng một dây, người Tàu ở xen kẻ buôn bán, so sánh với các phố khác thì trù mật hơn. Trước mặt phố đắp đường quan, dân chúng qua lại, xe ngựa dong ruổi, giữa đô thị có cảnh trí xe chạy đụng bánh, người đi chen nhau vậy!”.

Ðịa danh Trường Tiền nay là khu vực chợ Ðông Ba, phố Trần Hưng Ðạo, thuộc phường Phú Hòa, thành phố Huế.

TRƯỜNG THI

Buổi đầu khai khẩn xứ Ðàng Trong, công việc bề bộn, chuyên thi cử học hành chưa sắp xếp tổ chức chu đáo được. Từ năm 1632, chúa Nguyễn Phúc Nguyên cho duyệt tuyển lính, 6 năm 1 lần tuyển lớn, 3 năm 1 lần tuyển nhỏ. Ba huyện Hương Trà, Quảng Ðiền, Phú Vang đặt một trường. Mỗi khi đến kỳ tuyển lớn thì thông báo cho học trò các huyện đều đến trân dinh để khảo thí một ngày. Phép thi dùng một bài thơ 1 đạo văn sách, hạn trong một ngày phải làm xong, lấy tri phủ, tri huyện làm sơ khảo, ký lục làm phúc khảo. Người thi trúng tuyển thì cho làm Nhiêu học được miễn thuế 5 năm: được gọi là “thi quận vào mùa xuân” (TB, tr. 62,63).



Ðịa điểm tổ chức Trường Thi này ở Cồn Hến, một cồn lớn, rộng rãi, giữa sông Hương nằm bên trái trước mặt phủ Phú Xuân, nay thuộc phường Giang Hến, ấp Bồi Thành của phường Vỹ Dạ, thành phố Huế. Năm 1775, có ghi rõ nơi này là “Thi trường lục niên nhất khoa”. Về sau, Trường Thi dời địa điểm đến nhiều nơi như ở phường Ninh Bắc, làng An Ninh, làng La Chữ, phường Tây Nghị trong kinh thành…song đây là Trường Thi đầu tiên và được tổ chức nhiều khoa thi từ thế kỷ 17 ở đô thành Phú Xuân thời các chúa Nguyễn.

Ngoài các công trường nói trên, còn có các xưởng thuyền, kho thóc, ngành nghề thủ công ở Mậu Tài, Phú Bài, Cầu Hai, Ðốc Sơ, Võng Trì, Lại Ân, Tiên Nộn, Phước Tích, Mỹ Xuyên, Hiền Lương… đã góp phần sản xuất nhiều của cải và đồng thời quy tụ, huy động nhiều thợ ở nhiều địa phương khác nhau về ở thủ phủ, đô thành Phú Xuân, làm cho mảnh đất nông nghiệp truyền thống này sinh động, linh hoạt hẳn lên làm căn bản cho giai đoạn phát triển đô thị cổ Phú Xuân-Huế vào thế kỷ 19.

Tuesday, April 28, 2015

Một chuyến hành trình đến A Lưới

Du Lịch Huế - Trong lúc cả nước đang hướng về đất Tổ để tưởng nhớ các vị vua Hùng ngày mồng mười tháng ba, chúng tôi lại quyết định tổ chức một chuyến đi về phía tây tỉnh Thừa Thiên Huế để chứng kiến cuộc sống của con cháu của một trong 50 người con của dòng giống Lạc Hồng đã chia tay người anh cả để rồi đến định cư tại vùng cao A Lưới.

Sau khi vượt qua những con dốc cao và những đoạn đường ngoằn ngoèo, chúng tôi đã đặt chân đến địa phận của huyện A Lưới. Khung cảnh hiện ra trước mắt chúng tôi là những ngọn núi, những con đèo tiếp nối nhau rồi lên cao, cao vút. Hai bên đường là những cánh rừng trồng và những cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn như nối tiếp nhau chạy dài đến vô tận.


Dốc Kim Quy


Nếu thay những cây tràm bằng cánh rừng thông thì người ta cứ ngỡ rằng đây là đoạn dốc cuối đèo Liên Khương của Đà Lạt


Từ trên cao nhìn xuống, công trường thủy điện A Lưới đang thi công. Hi vọng trong thời gian sắp đến Huế sẽ không còn bị cắt điện luân phiên.

Khi chưa chiếc cầu bên kia, con đập tràn này đóng một vai trò rất quan trọng trong tuyến giao thông từ Huế lên A Lưới. Tuy đã bị sạt lỡ nghiêm trọng nhưng vẫn không có một dấu hiệu cảnh báo nguy hiểm.

Rời những con dốc mềm, đèo A co hiện ra trước mắt chúng tôi. Đèo A Co được xem là con đèo cao nhất và nguy hiểm nhất trong tuyến đường quốc lộ 49 nối liền Huế đến A Lưới. Càng lên cao, con đường càng hẹp dần, mức độ nguy hiểm cũng từ đó mà tăng lên. Một bên là triền núi với những đoạn ta luy cao vút như có thể sạt xuống và lấp lấy con đường, phía bên kia là vực sâu thăm thẳm. Khung cảnh nhày càng trở nên hùng vĩ.







Từ trên đèo A Co nhìn xuống

Đổ đèo A Co một quãng, một con đường bằng phẳng dẫn chúng tôi đến ngã ba Sơn Thủy - Nơi tiếp giáp giữa quốc lộ 49 và đường Hồ Chí Minh. Dọc theo con đường Hồ Chí Minh theo hướng Bắc khoảng 7 km, chúng tôi đã về đến thị trấn A Lưới. Thị trấn A Lưới là một thung lững dài và hẹp có diện tích khoảng 1350 hecta nằm dọc theo trục của tuyến đường Hồ Chí Minh với dân số khoảng hơn 6 ngàn trong đó đa số là người Kinh lên đây định cư. Xung quanh thị trấn về phía Tây, phía Bắc và phía Nam của thị trấn là các bản làng của đồng bào dân tộc Pa Koh, Tà Ôi, Bru - Vân Kiều thuộc các xã lân cận như A Ngo, Hương Lâm, A Đớt, Hồng Kim, Hồng Thượng,...




Toàn cảnh thị trấn A Lưới nhìn từ trên cao

Chúng tôi dừng chân nghỉ lại tại ngôi nhà nhỏ của một thầy giáo từ Huế lên đây công tác. Nhìn ra xung quanh, đất đai vùng này không mấy ưu ái cho nông nghiệp duy chỉ có khí hậu mát mẻ của vùng cao nên hoa lá đua nhau khoe sắc. Ngoiaf thành phần cán bộ Nhà nước được hưởng các khoản ưu đãi, trợ cấp vùng miền nên cuộc sống có phần sung túc thì đời sống của đại đa số đồng bào ở đây vẫn chưa thoát khỏi cái nghèo.


Một vài loại cây trồng không mang lại giá trị kinh tế cao

Một số khoảng đất trũng trồng được lúa nước còn lại là lúa nương




Rực rỡ sắc màu


Đoàn người vào rừng kiếm củi trong đó có cả những em bé vừa lên tám, lên mười


Buổi chiều, chúng tôi lần theo con đường Hồ Chí Minh về phía Nam để tận mắt chứng kiến cái hầm đường bộ do người Việt Nam tự thiết kế và thi công ở xã A Roàng. Rời xa thị trấn khoảng vài km, cái cảnh sung túc dần tan biến, thay vào đó là những bản làng vẫn còn xác xơ của đồng bào thiểu số. Hết Hồng Thượng đến Hương Lâm, một xã được xem là nghèo nhất huyện A Lưới. Đã thế, vùng đất này còn phải gánh chịu hậu quả của chiến tranh. Đâu đó dưới lòng đất này, trong những thớ đất, những mạch nước xung quanh sân bay A Sầu là chất độc màu da cam (Dioxin) còn đọng lại. Cảnh đập lúa và tuốt lua bằng tay ở vùng xuôi giờ đây hiếm ai trông thấy nhưng ở đây dường như là phổ biến. Trẻ con và thanh niên ở đây cũng chẳng có gì để giải trí ngoài việc tụm năm tụm ba ngồi ở vệ đường nhìn xe cộ qua lại.



Một bản làng của đồng bào thiểu số

Một ngôi nhà bắt gặp trên đường


Có thể đây là ngôi nhà đẹp nhất ở trong vùng

Xe chúng tôi lại tiếp tục lăn bánh, càng về chiều trời càng se lạnh, khung cảnh làng mạc giờ đây được thay thế bằng những cánh rừng nguyên sinh. Không khí ngày càng trở nên ẩm ướt. Trên đầu chúng tôi bắt đầu
xuất hiện những làn sương trắng mỏng. Hai bên đường, khu rừng nguyên sinh với những cây cổ thụ xếp thành từng tầng, tán vươn ra như ôm chầm lấy nhau. Bên dưới là những cây dương xỉ thân gỗ có tuổi đời chắc phải đến hàng chục năm.








Rừng nguyên sinh Đông Trường Sơn

Đến đỉnh đèo, sương mù như phủ kín cả lối đi. Những chiếc áo ấm giữa mùa hè đã được phát huy tác dụng. Trong lúc ở Huế mọi người phải sống trong cái nóng oi bức, thêm vào đó là việc cúp điện luân phiên làm cho
cái nóng gay gắt càng gây thêm cảm giác ngột ngạt thì chúng tôi lại được tận hưởng cái se lạnh của mùa đông trên núi cao. Sương mù đọng lại thành giọt hay là mưa phùn ? Cũng khó mà phân biệt được. Thế rồi cửa hầm cũng hiện ra




Hầm đường bộ A Roàng

Khung cảnh vắng lặng, không một bóng người. Trạm thu phí bỏ hoang vì không phát huy được tác dụng. Chúng tôi cố gắng tìm cái bảng ghi những thông tin về hầm nhưng cũng chả có, chỉ có một cái cột bê tông đang nằm chờ để được gắn biển. Không có điện, miệng hầm tối om, đen ngòm và sâu thẳm. Cảnh vật vắng vẻ đến rợn người. Phía vách bên kia là dấu tích của CLB Sài Gòn CD. Họ cũng đã có lần đặt chân đến nới này.


Bút tích của SCDG

Sau một phút ngần ngại, chúng tôi quyết định đi sang phía bên kia. Theo thông tin mà chúng tôi nắm được, xã A Roàng, A Đớt là những xã cuối cùng của huyện A Lưới nên có thể vượt qua cái hầm tối om này là chúng tôi đã đặt chân lên đất của tỉnh bạn.


Từ trong hầm A Roàng

Đặt chân lên đất Quảng Nam

Sang phía bên kia, sương mù dày đến nỗi chỉ đứng cách nhau khoảng chục mét là không nhìn thấy mặt nhau. Trời cũng đã xế chiều nên chúng tôi quyết định quay trở về để nghỉ ngơi và chuẩn bị cho chương trình buổi tối. Ngược gần 40 cây số, chúng tôi trở lại thị trấn A Lưới, trời cũng đã nhá nhem. Chủ nhà, khách và một vài người bạn lần đầu tiên gặp gỡ cũng đã có mặt đông đủ. Xưng bạn bè cho thân tình nhưng thực ra có rất nhiều thành phần, thuộc nhiều thế hệ, lớn có, nhỏ có, thầy có, trò có thậm chí có cả lãnh đạo huyện cũng đến chung vui cùng chúng tôi. Ai có thịt đem thịt, ai có bia mang bia. Thế là chúng tôi có một bữa tiệc rất đầm ấm.

Monday, April 27, 2015

Đại ngàn Bạch Mã

Du Lịch Huế - Bạch Mã là vườn quốc gia trên dãy núi cùng tên thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế. Truyền thuyết kể rằng ngày xửa ngày xưa, các vị tiên thường cưỡi ngựa trắng xuống núi đánh cờ, bởi cảnh trần đẹp chẳng kém tiên

Khi các tiên ông ngồi tỉ thí, ngựa mải mê tìm cỏ non tơ. Đợi ngựa không được, các tiên ông phải bay về trời. Đàn ngựa ngơ ngác, lang thang khắp núi, hóa thành những đám mây hệt như ngựa trắng, quanh năm chờ chủ. Tên gọi Bạch Mã bắt nguồn từ đó.

Có địa thế cực kỳ thuận lợi, Bạch Mã ở độ cao trung bình 1.450 m, sát dãy Trường Sơn và cách biển chỉ 10 km nên khí hậu dễ chịu nhất so với các vùng cùng độ cao trên khắp Đông Dương. Với diện tích 37.487 ha, Bạch Mã còn giữ được khá tốt rừng nguyên sinh bạt ngàn với những thảm thực vật đa dạng (2.147 loài) và hệ động vật phong phú (hơn 1.500 loài). 93 loài có tên trong sách đỏ Việt Nam và thế giới. Từ 1932, Girard, kỹ sư trưởng ngành cầu đường, người Pháp, khi đặt chân đến Bạch Mã đã kinh ngạc đến sững sờ trước thiên nhiên kỳ thú.

Năm 1936, Bạch Mã trở thành khu nghỉ dưỡng tuyệt vời với 139 biệt thự cổ kính, sang trọng, tĩnh lặng, có cả hồ bơi, cửa hàng Chaffanjon, 2 khách sạn Morin và Bany. Ban đầu chỉ có đường đi kiệu, sau thêm đường ô tô. Hệ thống đường đất thô sơ uốn lượn, luôn rợp mát bóng cây nối các biêt thự với công viên Rừng, vườn Ca Hát. Cũng năm này, vua Bảo Đại và quốc vương Monivong (Campuchia) đã hỗ trợ tài chính để thành lập Trại Trường Bạch Mã, huấn luyện huynh trưởng hướng đạo cho Đông Dương. Bằng Rừng (Wood Badge) Bạch Mã là đẳng cấp chất lượng của các trưởng hướng đạo châu Á, niềm tự hào của các huynh trưởng Việt Nam. Đến năm 1945, Trại Trường Bạch Mã ngưng hoạt động. Nhiều cán bộ cách mạng cao cấp từng tốt nghiệp Bằng Rừng Bạch Mã giai đoạn 1938-1944. Trong xu thế hội nhập, hướng đạo Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng là Hội trưởng danh dự năm 1946, rất cần được công nhận và phục hồi hoạt động của Trại Trường Bạch Mã.



Ảnh: Lưu Quang Phổ


Thiên hạ nói “Xem cây vào Cúc Phương, ngắm thú đến Cát Tiên, tắm thác lên Bạch Mã”. Bạch Mã có nhiều thác đẹp như thác Hoàng Yến, Trĩ Sao, thác Bạc, Ngũ Hồ... Nổi tiếng hơn cả là thác Đỗ Quyên cao 300 m, được xem là thác cao nhất ASEAN, như cố níu trời xuống gần hơn với đất bởi những con rồng trắng oai phong, mềm mại bay lượn giữa rừng xanh. Thác như một đài nước khổng lồ nên có tên gọi là Chateau D’ Eau, người Việt gọi là “Xa Tôi Đô”. Còn dân gian gọi là thác Đỗ Quyên bởi quanh thác là những thảm đỗ quyên quanh năm rực rỡ. Đỗ quyên là loài hoa đặc trưng của Bạch Mã, quốc hoa của Nepal, xứ sở sinh ra thái tử Tất Đạt Đa (Đức Phật) tại vùng Lumbini. Đỗ quyên là một trong 338 cây thuốc nam đa dụng ở Bạch Mã, có nhiều tên gọi khác nhau như: sơn thạch lựu, ánh sơn hồng, mãn sơn hồng, báo xuân, thanh minh, sơn trà... Tùy theo màu hoa mà gọi là tử quyên - đỏ tía, hồng quyên - đỏ nhạt, bạch quyên - trắng, hoàng quyên - vàng. Hoa đỗ quyên dịu dàng, nữ tính; được nhiều người thích trồng. Tặng hoa đỗ quyên thay lời nhắn nhủ “Nhớ chăm sóc và giữ gìn sức khỏe” (Take care of yourself for me).

Lên Bạch Mã, khoái nhất là đi bộ dọc theo những đường mòn mang dấu ấn đặc thù như Trĩ Sao, Đỗ Quyên, Ngũ Hồ, Vọng Hải Đài, Chò Đen... Thử sức dẻo dai thì trèo 689 bậc thang lên đỉnh thác, ngắm dòng sông Yến thơ mộng, dịu hiền với những thảm xanh rực rỡ đỗ quyên đủ màu khoe sắc; nghe dàn nhạc nước khổng lồ hòa tấu réo rắt, hoành tráng. Thích nhất là lên Vọng hải đài, điểm cao lý tưởng để thưởng ngoạn toàn cảnh Bạch Mã. Xa xa là hồ Truồi rộng 400 ha, mơ màng xanh và Thiền viện Trúc Lâm sừng sững, ẩn hiện. Đầm Cầu Hai như mặt gương biếc vô tận. Đầm rộng hơn 11.200 ha. Nhiều người cứ tưởng đầm Cầu Hai (phía nam Huế, dưới chân núi Bạch Mã) là phá Tam Giang (phía bắc Huế). Tôi cũng thích ngụp lặn trong dòng nước ngọc bích, mát rượi của Ngũ Hồ vào mùa hè. Có thể tắm hồ nào cũng được, không sợ ướt quần áo. Chỉ cách nhau đèo Hải Vân, cùng độ cao mà Bạch Mã và Bà Nà quá nhiều khác biệt. Bà Nà chỉ có hoa địa lan và rất ít nước. Còn Bạch Mã, nước tràn trề, hoa đủ loại, chỉ riêng đỗ quyên cũng đã hơn chục loài khoe sắc. Đến Bạch Mã, tôi thường rủ vài bạn tri âm, tản bộ dưới rừng rồi sà vào các thác nhỏ ven đường tắm tiên. Dòng thác mát rượi, massage khắp cơ thể, hiệu quả hơn bất cứ tiệm massage nào, lại không tốn tiền vé, tiền bo. Chỉ tội hồi hộp, vừa tắm vừa canh chừng, sợ bọn khỉ ra lấy trộm quần áo thì hết đường về.

Động vật ở Bạch Mã có nhiều loài cực hiếm như gà lôi lam màu trắng, trĩ sao (có con dài tới 2 m cả đuôi, cao gần 0,5 m), sao la... Riêng chim có 333 loài, là điểm hẹn thú vị của dân mê chim. Đặc biệt có “quái kiệt” Trương Cảm, được xem là nhà chim học. Gọi là quái kiệt bởi anh có thể nói được mấy chục “ngoại ngữ” chim và thú. Được anh làm hướng dẫn viên rừng là nhất. Anh có thể giả tiếng chim, thú để “gọi bạn, gọi tình, lạc đường, lẻ loi, thách đấu, tranh chấp lãnh thổ, hốt hoảng, báo tin dữ, lúc da diết, lúc tuyệt vọng, lúc hừng hực...”. Nếu hóa trang kỹ bằng cây xanh, nghe anh “nói”, nhiều loài chim và thú cứ tưởng đồng đội, sà xuống hoặc nhào đến làm quen. Anh thuộc Bạch Mã như lòng bàn tay mình, kể vanh vách từng loại cây, loại con với những tập tính hoặc tác dụng cụ thể. Nhiều loại mới nghe lần đầu như: nam trường sơn, thổ phục linh, thạch xương bồ, bướm bạch, bạch hoa thiết xà... Có cả loài dương xỉ 2 loại lá khác nhau trên cùng một cây gọi là lá sinh trưởng và lá tăng trưởng. Đến Bạch Mã, tôi mới biết chim Chrao của bà con Tây nguyên là chim chèo bẻo. Loài chim được mệnh danh là “dũng sĩ”, nhỏ nhưng đoàn kết và dũng mãnh, sẵn sàng đánh bại cả những loài to hơn gấp mấy lần. Tôi cũng biết thêm cây K’ nia là cây cày, cây X’nu họ thông, cây khộp họ dầu, cây P’lang là mộc miên hay hồng miên thuộc họ gạo...

Quái kiệt, hiền như đất, dễ thương như cây cỏ. Thuở bé, cậu bé Cảm từng là tay săn thiện chiến chuyên trộm chim và thú của rừng. Bị kiểm lâm giả dạng người mua bắt quả tang, bé Cảm sợ xanh mặt. Thấy cậu bé thật thà chứ không ma lanh, anh em muốn cảm hóa. Có người đùa dọa: “Mày còn bé, nhưng bắt trộm chim quý là trọng tội. Ít nhất cũng vài năm tù treo”. Cảm òa khóc tức tưởi rồi mếu máo: “Mấy chú phạt tù mấy năm con cũng chịu nhưng xin đừng treo con lên. Treo một ngày cũng chết. Làm sao chịu nổi mấy năm?”. Anh em kiểm lâm xoa đầu Cảm và cười. Bé Cảm “giã từ dĩ vãng”, trở thành kiểm lâm nhí từ đó. Chịu khó học hỏi, chí thú làm việc, cộng với nhiều tài vặt thuở giang hồ và năng khiếu bẩm sinh, Cảm là “sao” của kiểm lâm Bạch Mã. Đang học năm thứ 2 Đại học Nông lâm Huế, Cảm được học bổng du học tại Pháp, nghiên cứu về chim. Các giáo sư và sinh viên các nước kinh ngạc trước khả năng nói tiếng chim của Cảm. Tại đây, Cảm càng có dịp học thêm “ngoại ngữ” các loài chim lạ. Đến Bạch Mã, nhất định phải làm quen với nhà chim học, nhờ anh dạy vài chiêu dụ chim và theo anh vào rừng để có thêm bồ kiến thức. Tôi nghĩ anh xứng đáng được trao kỷ lục Guinness “người biết nói nhiều tiếng chim nhất” của ASEAN.

Biệt thự ở Bạch Mã kiến trúc kiểu châu Âu, mỗi căn có 2 tầng với từng nét riêng độc đáo, được đặt tên theo các loài động thực vật đặc hữu của rừng. Cả khu nghỉ dưỡng tuyệt đẹp bị hoang hóa do chiến tranh và thời gian tàn phá. Nhưng sự hủy hoại của “sự dốt nát chân thật” (nhà thơ Trần Việt Phương) mới đáng sợ. Các biệt thự, cảnh quan nhân tạo và Trại Trường Hướng Đạo bị xâm hại trầm trọng. Sau năm 1994, Bạch Mã bắt đầu khôi phục, sửa sang lại đón khách du lịch. Do có nhiều khó khăn, bất cập về đường sá, kinh phí nên dù hết sức cố gắng, Bạch Mã vẫn chưa thể hồi phục hoàn toàn, chưa kể có những biến tướng đáng quan ngại. Khuynh hướng bê tông và thương mại hóa đang lấn át nên khó lòng giữ được môi trường thiên nhiên ban đầu. Chạy theo trào lưu du lịch tâm linh, Vọng hải đài biến tướng thành chùa với những tranh ảnh mê tín, xa lạ với phật pháp. Việc đóng cửa từ tháng 12.2009 - 3.2013 để đại tu và làm mới Bạch Mã đang dấy lên nhiều lo lắng.

Bạch Mã là mỏ vàng du lịch, nếu cải tạo vẫn cần phải giữ nguyên vẹn những nét đẹp hoang sơ thưở ban đầu. Bằng không, chỉ còn là điểm du lịch thuần túy xô bồ, tạp nham. Một khi hệ sinh thái thay đổi, chim và thú bỏ đi, liệu Bạch Mã có còn là đại ngàn Ngựa Trắng hay chỉ là hoài niệm buồn. Hy vọng những linh cảm của tôi không chính xác. Bạch Mã sẽ lột xác, đáng yêu và dễ thương hơn, tiện nghi hiện đại nhưng vẫn giữ được hồn Bạch Mã đại ngàn.

Theo Phượt thủ Nguyễn Văn Mỹ

Hình ảnh mãng xà hiếm thấy trên Cửu đỉnh nhà Nguyễn

Du Lịch Huế - Huế là kinh đô cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam. Trải qua 143 năm (1802-1945), vương triều Nguyễn đã để lại nhiều công trình văn hóa có giá trị trên vùng đất Phú Xuân (cố đô Huế ngày nay). Một trong những công trình tiêu biểu trong tổng thể các giá trị văn hóa mà vương triều Nguyễn để lại chính là Cửu đỉnh (9 cái đỉnh lớn).

Đó là một công trình đồ sộ được đặt trong đại nội Huế. Đến nay, Cửu đỉnh vẫn còn rất nguyên vẹn được đặt trước Hiển Lâm các, đối diện với Thế miếu. Cửu đỉnh là một cuộc triển lãm những tác phẩm mỹ thuật rất tinh tế của những nghệ nhân tài hoa, là biểu tượng cho sự giàu đẹp, thống nhất của đất nước và ước mơ triều đại mãi vững bền, hùng mạnh.

Tất cả 153 mảng hình trên Cửu đỉnh là 153 bức chạm độc lập, hoàn chỉnh, là sự kết hợp điêu luyện giữa nghệ thuật đúc và chạm nổi đồ đồng nước ta, giữa văn hóa dân gian và văn hóa bác học hồi đầu thế kỷ XIX.

Mỗi đỉnh khắc 17 hình ảnh khác nhau không trùng lắp và có chú thích bằng chữ Hán, mỗi họa tiết không chỉ đơn thuần là những đường nét chạm khắc tinh tế mà đó còn là những tác phẩm nghệ thuật độc đáo. Cửu đỉnh được coi là bách khoa thư về cuộc sống con người Việt Nam hồi nửa đầu thế kỷ XIX.

Cửu Đỉnh là di sản văn hóa quý hiếm, có giá trị nhiều mặt của văn hóa Huế nói riêng, cả nước nói chung. Đó còn là sản phẩm thể hiện đỉnh cao trong nghệ thuật đúc đồng của nước ta ở thế kỷ XIX.



Hình mãng xà được khắc trên Huyền đỉnh

Cửu đỉnh được đặt tên theo miếu hiệu của các vua triều Nguyễn, mỗi đỉnh ứng với một vị vua: Cao Đỉnh là miếu hiệu của vua Gia Long, được đặt ở chính giữa, tiếp đó là Nhân đỉnh (Minh Mạng), Chương Đỉnh (Thiệu Trị), Anh đỉnh (Tự Đức), Nghị đỉnh (Kiến Phúc), Thuần Đỉnh (Đồng khánh), Tuyên đỉnh (Khải Định). Riêng Dụ đỉnh và Huyền đỉnh chưa kịp có miếu hiệu của vị vua nào thì triều Nguyễn đã sụp đổ.

Sách “Đại Nam thực lục” chép: “Trên Huyền đỉnh, khắc các hình: mưa, cầu vồng, núi Hoành Sơn, sông Tiền Hậu Giang, sông Thao, núi Thúc Thu, con ngựa, con cà cuống, con mãng xà, hoa lan 5 lá, quả vải, cây bông, sâm nam, cây sơn, cây tỏi, cái xe, ống phun lửa, đều 17 loại”. Chúng ta thấy rằng, Huyền đỉnh cũng như tám đỉnh khác đều khắc rất đa dạng về thiên nhiên đất nước với những hình ảnh tượng trưng cho từng vùng miền cũng như những điểm chung của cả nước.

Đặc biệt, trên Huyền đỉnh có khắc hình ảnh con mãng xà (rắn) được thể hiện rất sinh động. Như ta đã biết, rắn là một trong 12 con giáp theo quan niệm địa chi của người phương Đông. Việc được khắc hình ảnh trên Huyền đỉnh cũng đã cho thấy con vật này có một vai trò quan trọng bởi 153 họa tiết được khắc trên Cửu đỉnh đều là những hình ảnh đặc trưng.

Trong bài viết “Những họa tiết trên Cửu đỉnh”, nhà nghiên cứu Dương Phước Thu đã lý giải việc mãng xà được chọn để khắc trên Huyền đỉnh như sau: “Mãng xà, tức con rắn to, thuộc bộ có vảy. Nhiều sách chép là mãng vương xà (vua của loài rắn), theo quan niệm dân gian, rắn là vị thần (thần Lốt) ở miền sông nước. Mãng xà lớn nhất trong loài rắn nên gọi là vương xà; mắt nó tròn, mùa xuân và mùa đông ở trên cạn, mùa hạ và mùa thu ngâm mình dưới nước.

Ở Việt Nam, những tỉnh có vùng bán sơn địa, nhiều sình lầy, đầm hồ, mãng xà thường ẩn cư. Thịt mãng xà có nhiều chất bổ, xương của nó được bào chế để làm thuốc chữa trị tê thấp, gân cốt, rất hiệu quả. Rắn (tỵ) được xếp đứng thứ sáu trong địa chi 12 con giáp”. Đó là những nguyên nhân để vua Minh Mạng chọn hình tượng con mãng xà lớn để khắc lên Huyền đỉnh.

Nhưng việc chọn hình ảnh mãng xà để khắc lên Huyền đỉnh cũng là một ngụ ý rất thâm sâu của vua Minh Mạng, bởi chính loài rắn đã có một chỗ đứng trong lịch sử tồn tại của vương triều Nguyễn mà cụ thể là với vua Gia Long - vị vua đầu tiên của vương triều Nguyễn đồng thời là cha đẻ của vua Minh Mạng. Nguyễn Ánh (vua Gia Long sau này) đã đánh đổ được nhà Tây Sơn để lập ra một vương triều thống nhất (triều Nguyễn).

Nhưng ngược lại lịch sử để thấy rằng, ngôi vị mà Gia Long dành được cũng phải đánh đổi bằng nhiều hiểm nguy. Nguyễn Ánh đã nhiều lần bị quân Tây Sơn truy kích, có lúc tưởng như không thể vượt qua nổi, phải bôn ba hết nơi này đến nơi khác, cuối cùng mới giành được chiến thắng.



Huyền đỉnh (ngoài cùng bên phải) trong Cửu đỉnh có khắc hình mãng xà

Đặc biệt, trong những ngày bôn ba để chống lại sự truy đuổi của nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã được rắn thần trợ giúp. Đó là khi Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn truy kích phải chạy đến mãi vùng biển Hà Tiên - Phú Quốc. Khi bị truy đuổi, Nguyễn Ánh và những người tùy tùng phải đi thuyền nhỏ ra Hà Tiên, Phú Quốc, trong đêm tối không trông thấy gì, tự nhiên có đàn rắn cõng thuyền vượt bể đi tới Hà Tiên.

Sách “Đại Nam thực lục” đã chép sự kiện này như sau: “Năm 1782, vua đến Hà Tiên, đi thuyền nhỏ qua biển. Đêm tối không thấy rõ, ở gầm thuyền hình như có vật gì đội, tang tảng sáng nhìn ra thì đó là một đàn rắn. Người đi theo đều lấy làm sợ. Vua giục cứ đi, một lát thì đàn rắn đi mất”.

Có lẽ vua Minh Mạng đã dựa vào việc vua cha được rắn thần giúp đỡ trong những ngày gian khó mà cho chọn hình tượng con mãng xà để khắc lên Cửu đỉnh. Đó còn thể hiện được tinh thần dù là một người đứng trên tất cả để cai trị thiên hạ nhưng Minh Mạng vẫn không quên công ơn của vua cha cũng như những điều đã giúp vua cha vượt qua khó khăn. Sự tưởng nhớ đó thể hiện vua Minh Mạng là một vị vua có hiếu, luôn tưởng nhớ đến công ơn của vua cha.

Việc cho khắc hình ảnh con mãng xà trên Cửu đỉnh cũng là sự tri ân của vua Minh Mạng đối với thần rắn đã giúp vua Gia Long trong những ngày mà số phận của vương triều Nguyễn đứng giữa làn danh giới mỏng manh tồn tại hay không tồn tại. Dù sự kiện rắn thần hiện lên giúp đỡ Gia Long có hay không nhưng đối với vua Minh Mạng thì việc đó không quan trọng. Trong một thời điểm loạn lạc như vậy, bất cứ sự giúp đỡ nào cũng là điều mà nhà vua không thể bỏ qua.

Trong quan niệm của người phương Đông nói chung và người Việt nói riêng, hình tượng con rắn không được thân thiện như những con vật khác. Nhiều người thường xem rắn là con vật nguy hiểm có thể đe dọa đến tính mạng.

Chính vì vậy mà khi thấy rắn là người ta chỉ muốn đánh chết nên dân gian có câu: “Đánh rắn là phải đánh dập đầu”, hoặc khi nói đến một người không tốt, có tâm địa hiểm ác, người ta lại nói: “Khẩu phật tâm xà”... Sự kỳ thị của nhân gian đối với loài rắn là như vậy nhưng rắn vẫn chi phối nhiều trong đời sống xã hội như dùng rắn ngâm rượu hay dùng rắn để chữa bệnh.

Với vua Minh Mạng, rắn là ân nhân của vương triều Nguyễn. Việc chọn mãng xà để khắc lên Huyển đỉnh trong Cửu đỉnh đã thể hiện vị trí quan trọng của loài vật này bởi có rất nhiều loài vật khác được dân gian có quan niệm tốt hơn nhiều nhưng loài rắn vẫn được chọn để đại diện cho những tinh túy nhất.

Chuyện hình tượng mãng xà được khắc trên Cửu đỉnh là một điều làm cho nhiều người hiếu kỳ muốn khám phá. Qua đó để ta thấy được rằng, loài rắn cũng có một chỗ đứng quan trọng trong đời sống cộng đồng của người Việt. Chúng ta sắp bước sang năm Quý tỵ, điều đó càng làm cho hình tượng mãng xà trên Cửu đỉnh thú vị hơn và để hiểu sâu hơn về sự tri ân của triều Nguyễn đối với loài rắn.

Xây dựng thương hiệu đặc sản gạo đỏ Quảng Điền

Du Lịch Huế - Từ thành công trong việc phục tráng giống lúa gạo đỏ vốn được trồng ở vùng thấp trũng bị nhiễm mặn, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên-Huế đã cho phép Hội Nông dân huyện Quảng Điền đăng ký nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm “Gạo đỏ Quảng Điền.”


Ảnh minh họa. (Nguồn: medlatec.vn)
Trước đây, do năng suất thấp cùng với việc có thêm nhiều giống lúa ngắn ngày được đưa vào sản xuất nên giống lúa gạo đỏ hầu như không còn được trồng.

Năm 2010, trường Đại học Nông lâm - Đại học Huế đã giúp một số hộ nông dân xã Quảng Lợi về giống, kỹ thuật, phân bón để phục tráng thử nghiệm lại giống lúa gạo đỏ trên diện tích 1ha. Đây là lần đầu tiên sau khoảng 20 năm, giống lúa gạo đỏ trồng ở vùng nước nhiễm mặn Quảng Lợi được phục tráng.

Qua khảo nghiệm cho thấy, giống lúa gạo đỏ vẫn giữ nguyên được các đặc tính như thân cao và cứng, phù hợp với điều kiện tự nhiên vùng đất ngập nước nhiễm mặn ở ven cửa sông, đầm phá.

Giống lúa gạo đỏ còn có khả năng chống chịu sâu bệnh rất tốt, không phải sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và hầu như không bị nhiễm bệnh. Hiện nay, gạo đỏ đang được thị trường rất ưa chuộng.

Từ thành công bước đầu, ngành nông nghiệp tiếp tục hướng dẫn nông dân kỹ thuật chăm bón để mở rộng diện tích giống lúa gạo đỏ.

Ông Nguyễn Tường, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Quảng Lợi cho biết đến nay, xã đã phát triển được 7ha giống lúa gạo đỏ ở vũng thấp trũng nhiễm mặn. Mỗi ha cho năng suất khoảng 20 tạ. Tuy cho năng suất thấp hơn nhiều so với các giống lúa ngắn ngày nhưng gạo đỏ lại bán được giá cao hơn gấp từ hai đến ba lần. Mặt khác, gạo đỏ được sản xuất theo quy trình an toàn, chi phí sản xuất lại rất thấp.

Hiện ngành nông nghiệp Quảng Điền hỗ trợ sản xuất thêm 2ha giống lúa gạo đỏ tại Hợp tác xã Tam Giang, xã Quảng Thái. Xã Quảng Lợi cũng đang hỗ trợ người dân tiếp tục mở rộng diện tích trồng lúa gạo đỏ ở đất thấp trũng, ngập mặn ven phá Tam Giang.

Dự án phát triển nông thôn huyện Quảng Điền, chương trình xây dựng nông thôn mới cũng hỗ trợ về kinh phí, giống để mở rộng sản xuất giống lúa gạo đỏ.

Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp đang xây dựng thương hiệu cho đặc sản gạo đỏ Quảng Điền. Đồng thời, phối hợp với các siêu thị, chợ đầu mối trong và ngoài tỉnh để thu mua gạo đỏ cho nông dân.

"Gạo đỏ Quảng Điền" được xem đặc sản vì sản lượng ít, nhưng hạt gạo nhiều dinh dưỡng và được xem là một vị thuốc trong đông y. Do vậy, người tiêu dùng rất ưa chuộng nên bán được giá cao.

Gạo đỏ Quảng Điền thường dùng để nấu cháo, nhất là cho người bệnh. Người ta xay xát lúa sao cho còn lớp cám mỏng quanh hạt gạo để khi nấu cháo hạt gạo ít bị nát và giữ được mùi thơm béo đặc thù.

Với người dân Huế, cháo gạo đỏ ăn với cá bống thệ kho rim là một món ăn độc đáo và rất bổ dưỡng.

Theo Nguyên Lý

Chốn trời đất giao hòa

Du Lịch Huế - Lăng Gia Long nằm ở làng Định Môn (Hương Thọ, Hương Trà), bên dòng Tả Trạch - một hợp lưu của sông Hương. Từ Kinh thành Huế, đây là điểm lăng có vị trí xa nhất. Lăng được xây dựng năm 1814-1820, gồm 8 khu lăng mộ của nhà vua, các hoàng hậu và họ hàng quyến thuộc của vua Gia Long. Toàn bộ khu lăng là một quần sơn với 42 đồi núi lớn nhỏ có tên gọi riêng, trong đó Đại Thiên Thọ là ngọn lớn nhất được chọn làm tiền án của lăng và được dùng để gọi tên chung cho cả quần sơn này. Theo sử cũ, chính thầy địa lý Lê Duy Thanh (con trai nhà bác học Lê Quý Đôn) là người tìm thế đất này.

Tổng thể lăng chia làm 3 khu vực. Phần chính giữa là khu lăng mộ của vua Gia Long và chính phi. Qua khỏi sân chầu với các hàng tượng đá uy nghiêm và 7 cấp sân tế là Bửu Thành ở đỉnh đồi - nơi vua Gia Long và chính phi Thừa Thiên Cao Hoàng hậu được song táng. Bên phải khu lăng là khu vực tẩm điện với điện Minh Thành là trung tâm. Trong điện có thờ nhiều kỷ vật gắn bó với cuộc đời của vua Gia Long như cân đai, mũ, yên ngựa, nay không còn. Bên trái khu lăng là Bi Đình, nay chỉ còn một tấm bia lớn ghi bài văn bia “Thánh đức thần công” của vua Minh Mạng ca ngợi vua cha, được chạm khắc tinh tế.

Cảnh sắc quanh lăng

Từ Kinh thành Huế đến lăng Gia Long, du khách có thể ngược thuyền theo sông Hương (khoảng 18km), hoặc linh động bằng xe máy, xe đạp (chừng 16km) rồi qua bến đò Kim Ngọc. Mỗi ngả đường đều cho du khách những trải nghiệm thú vị riêng. Nếu theo đường sông, du khách sẽ được thả hồn theo sông nước Hương giang, ngắm cảnh chùa Thiên Mụ, Văn Miếu hay núi Ngọc Trản… Nếu là đường bộ, du khách lại được đi giữa những đường làng bình yên của 2 xã Thuỷ Bằng (Hương Thủy) và Hương Thọ (Hương Trà) với những vườn cây trái xum xuê, trù mật. Dọc bãi bồi ven sông là một màu non tươi của ngô và các loại đậu. Sâu vào trong làng là những vườn thanh trà, bưởi. Vào mùa chớm hạ, hương bưởi, hương thanh trà và thoang thoảng hương xoan đưa đến cho du khách cảm giác thư thái sau quãng đường xa.

Đoàn khách đến từ Tây Ninh đang vào thăm lăng Gia Long

Trong những năm qua, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế đã triển khai nhiều dự án trùng tu lăng Gia Long, gồm: phục hồi điện Minh Thành, phục hồi nhà Đông vu, Tây vu, tu bổ mộ vua - hoàng hậu và la thành, kè bờ hồ, trụ biểu chính, đầu tư hệ thống hạ tầng như làm đường, lưới điện, nạo vét thủy hệ nối với sông Hương, khuôn viên, các bậc cấp dẫn lên lăng, bia đá, nhà bia, đường dẫn và cổng tam quan của khu vực điện Minh Thành… Hiện nay, Trung tâm đang thực hiện dự án phục hồi, tu bổ và tôn tạo điện Gia Thành - nơi thờ Thuận Thiên Cao Hoàng hậu, mẹ vua Minh Mạng. Các dự án trùng tu tại lăng Gia Long đã và đang được thực hiện theo hướng kết hợp xây dựng hạ tầng và dịch vụ, từng bước tôn tạo lăng thành khu vực du lịch văn hóa sinh thái hấp dẫn, thu hút khách du lịch.

Hiện nay, số lượng du khách đến lăng Gia Long đang ngày càng được cải thiện đáng kể. Đa phần du khách vượt dặm xa xôi là những người ưa phiêu lưu và ưa tìm về nơi trời đất giao hoà mà hiếm điểm lăng tẩm khác trong quần thể di tích Cố đô Huế có được.
Theo Đồng Văn

Sunday, April 26, 2015

Không “Phật lớn chùa to”, nhưng ai cũng biết..

Du Lịch Huế - Từng được mệnh danh là kinh đô Phật giáo, Huế có mật độ chùa chiền, tự viện tập trung khá dày đặc. Trong đó có nhiều Tổ đình, cổ tự hết sức nổi tiếng như Thiên Mụ, Từ Đàm, Bảo Quốc, Tây Thiên, Từ Hiếu, Vạn Phước, Thuyền Tôn…Cũng tại đất Cố đô này, có một ngôi chùa khác tuy không thuộc loại “Phật lớn chùa to” nhưng hầu như dân Huế ai cũng biết tiếng: Chùa Ba Đồn.
Chùa Ba Đồn nằm trên đường Tam Thai, thuộc phường An Tây, Tp Huế. Ngôi chùa này khá đặc biệt bởi “do các phường nghề (các phổ) tự lập và những người giữ chùa là những người bán thế xuất gia (có gia đình), không có tu sĩ như các chùa khác” (Dư địa chí Thừa Thiên Huế).

Cồn mồ 8 xã

Các tài liệu nghiên cứu cho hay, vào năm 1803, để xây dựng Kinh thành Phú Xuân, vua Gia Long cho giải tỏa 8 ngôi làng ở bờ bắc sông Hương. Số mồ mả không có người nhận được cho dời lên hiệp táng (chôn chung) tại khu vực Ba Đồn bây giờ, gọi là cồn mồ 8 làng. Sau đó, xây dựng đàn Nam Giao và lăng Gia Long, những mồ vô chủ lại được dời tiếp đến đây an táng, tạo thành hai cồn mồ lớn nữa. Năm 1835, vua Minh Mạng cho lập một bàn thờ ở giữa trời (đàn) tại cồn mồ 8 làng đề hằng năm nhà nước tổ chức cúng tế những cô hồn của 8 làng. Về sau, cho dựng thêm hai đàn nữa để cúng tế những cô hồn của cồn mồ thứ hai và thứ ba. Dân chúng gọi ba cồn mồ có ba đàn hằng năm tế lễ đó là Cồn mồ Ba Đàn. Cái tên Ba Đồn có lẽ được đọc trại từ Ba Đàn mà định danh cho đến nay.

Năm Ất Dậu 1885, sau biến cố thất thủ Kinh đô (23 tháng 5 âm lịch), di hài, di cốt của hàng ngàn tử sĩ, dân chúng đã hy sinh, tử nạn trong trận chiến không cân sức với giặc Pháp cũng được đưa lên Ba Đồn hiệp táng và hình thành thêm một số Cồn mồ nữa. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, đó là lý do để có thể xem Ba Đồn là một Nghĩa Trang Liệt Sĩ mở đầu thời chống xâm lược Pháp.



Công chúng, phật tử đến Ba Đồn để nguyện cầu, tưởng niệm…

Dưới thời nhà Nguyễn, việc cúng tế tại Ba Đồn rất được chú trọng. Ngoài lễ tế của triều đình, các phường nghề còn có ngày cúng tế của riêng mình. Dịp tháng 5 âm lịch, tưởng nhớ các anh linh, vong linh trong biến cố thất thủ Kinh đô, Lễ cúng âm hồn do các phổ tổ chức ở Ba Đồn kéo dài cả tuần lễ, bắt đầu từ ngày 23 tháng 5 cho đến cuối tháng 5 âm lịch. Rất nhiều câu chuyện đã được đồn thổi, thêu dệt hư hư thực thực chung quanh khiến cho Ba Đồn nổi tiếng linh thiêng. Một thời gian rất dài, rất nhiều người mong tìm đến đây xin quẻ xăm đầu năm để xem tài vận thế nào trong năm tới…

Năm 2005, nghĩa địa và chùa Ba Đồn được công nhận là Di tích lịch sử cấp tỉnh. Năm ngoái, nhân kỷ niệm 127 năm ngày thất thủ Kinh đô (1885-2012), một đại lễ cầu siêu và tế âm linh cô hồn đã được tổ chức trang trọng tại đây. Đại diện lãnh đạo tỉnh, thành phố Huế, các cơ quan, ban ngành hữu quan và hàng ngàn phật tử, công chúng đã tựu về, dâng nén tâm hương, đồng lòng tưởng nhớ, cầu nguyện…
Theo Diên Thống

Làng nghề thủ công Thừa Thiên-Huế thu hút khách

Du Lịch Huế - Thế mạnh của các làng nghề là các sản phẩm làm thủ công, nên việc trình diễn tại các làng nghề hết sức hấp dẫn và thu hút khách du lịch, đặc biệt là khách nước ngoài.



Nghề rèn sắt. (Nguồn: thuathienhue.gov.vn)

Nắm bắt đặc điểm này, nhiều làng nghề ở Thừa Thiên-Huế vừa tổ chức sản xuất, cải tiến mẫu mã sản phẩm, gắn với hàng lưu niệm, thu hút đông khách du lịch đến với các làng nghề.

Tỉnh Thừa Thiên-Huế hiện có 88 làng nghề truyền thống, với đông đảo đội ngũ thợ thủ công lành nghề, tài hoa. Nhiều nghề trong số đó đi liền với việc xây dựng các công trình di tích Huế như nghề mộc, chạm khắc gỗ, đúc đồng, gốm sứ, luyện sắt, rèn... Nếu biết kết hợp khai thác tiềm năng du lịch làng nghề, đây cũng là thế mạnh thu hút khách du lịch hiện nay của Thừa Thiên-Huế.

Năm nay, trong quy hoạch phát triển các làng nghề gắn với du lịch, tỉnh Thừa Thiên-Huế đầu tư 5,4 tỷ đồng; trong đó tập trung vào hai nhiệm vụ chính là bảo tồn, khôi phục, phát triển các nghề, làng nghề như gốm Phước Tích, mây tre đan Bao La và các làng nghề nón lá (Mỹ Lam, Thủy Thanh, Phong Sơn, Đông Đô), phát triển nghề chế biến dầu tràm, nước mắm và các làng nghề, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp khác; đồng thời hỗ trợ đào tạo nghề cho các cơ sở sản xuất ở các làng nghề.

Một trong những địa điểm thu hút khách du lịch ở Huế hiện nay là cơ sở sản xuất "nón Thuý," ngụ tại tổ 13 phường Phước Vĩnh, thành phố Huế. Chị Nguyễn Thị Thúy đã tạo nên thương hiệu nón lá từ bàn tay tật nguyền.

Sinh năm 1986, ngay từ buổi đầu, cánh tay phải của chị bị dị tật vào đến khuỷu, mọi sinh hoạt, học hành đều sử dụng bàn tay trái. Để không trở thành gánh nặng của gia đình, Thúy chọn cho mình nghề chằm nón, ban đầu chỉ để giúp mẹ và bà ngoại trong một số công đoạn. Vậy mà vượt lên chính mình, Thúy đã thành thạo với nghề và cơ sở sản xuất của chị trở thành điểm đến tham quan cho khách du lịch gần xa.

Trong khi nghề chằm nón ở Huế đang đứng trước nguy cơ mai một, Thúy chọn cho mình cách làm theo hướng du lịch. Khách đến với cơ sở của chị, vừa được xem cô gái chỉ với một tay, nhưng làm nên những chiếc nón xinh xắn, lại có sản phẩm mua về làm quà cho người thân. Khách du lịch tìm đến với cơ sở nón Thúy không chỉ đơn thuần mua về cho mình chiếc nón Huế của đất nước Việt Nam, mà ẩn chứa cả tấm gương của một con người không chịu đầu hàng trước số phận, như nhiều khách du lịch đến đây đã từng ngợi ca.

Cách thành phố Huế chỉ vài cây số, nghề đúc đồng ở phường Đúc lại có cách thu hút khách du lịch theo kiểu "làng nghề." Phường có tới hơn 60 lò đúc với khoảng 150 người làm nghề này. Ngoài các sản phẩm thông thường như đúc Đại hồng chung (chuông đồng cỡ lớn), lư hương, các mặt hàng mỹ nghệ, các cơ sở đúc đồng ở phường đúc còn có thể sản xuất những chi tiết máy dùng trong công nghiệp và những linh kiện có tính chính xác cao.

Các sản phẩm đồng mỹ nghệ, từ khâu lên khuôn, nung chảy và rót đồng đều chủ yếu làm bằng tay nên rất thu hút du khách, đặc biệt là khách nước ngoài. Cũng chính từ đây, giữa khách du lịch và người thợ thủ công có dịp trao đổi để hoàn thiện sản phẩm, như cải tiến, đổi mới mẫu mã, nhằm cho ra thị trường những sản phẩm đẹp mắt, nhỏ gọn hơn so với các sản phẩm bằng đồng khá thô và nặng trước đây

Nhà vườn - nét độc đáo của Huế

Du Lịch Huế - Huế không chỉ nổi tiếng với cảnh sắc thiên nhiên mơ mộng hữu tình với đền đài, miếu mạo, lăng tẩm hay chùa chiền mà Huế còn đặc biệt hấp dẫn bởi những ngôi nhà vườn êm ả thanh bình



Từ lâu, các nhà vườn Huế nổi tiếng là những mảnh vườn xanh tươi bao quanh những ngôi nhà cổ kính. Những ngôi nhà cổ và vườn cây là nơi tiềm ẩn, chứa đựng những tư tưởng, tính cách của con người Huế.

Nhà vườn Huế giống như một tiểu vũ trụ của cuộc sống thường ngày rất dân dã, gắn kết cuộc sống cần cù, nhẫn nại của con người với thiên nhiên. Nhà vườn Huế là một mẫu mực của lối kiến trúc cảnh vật hóa. Đó là những ngôi nhà cổ kính nằm trong mảnh vườn có lối kiến trúc mà những bộ vi kèo chạm trổ hết sức công phu, những bờ nóc, bờ quyết được đắp nổi, những trang trí rồng, mây trông rất đẹp mắt. Nhà vườn Huế được lợp mái bằng một thứ ngói cổ qua thời gian đã phủ lên một lớp rêu xanh cùng hòa lẫn vào màu xanh của vườn cây quanh nhà càng làm cho bức tranh thiên nhiên ở đây thêm phần quyến rũ.



Được xây theo luật “dịch lý” và “phong thủy”, nhà vườn Huế là tập hợp của một hệ thống kiến trúc sắp xếp theo chiều Bắc-Nam. Tuy rộng hẹp khác nhau, nhưng nhà nào cũng có kiến trúc tổng thể giống nhau đó là bao quanh ngôi nhà là hàng rào chè tàu hay hàng dâm bụt được tỉa tót khéo léo trông rất đẹp mắt. Ở mặt sau hàng rào là bụi tre, khóm trúc xanh tốt. Cửa ngõ vào nhà thường xây bằng gạch lát, mái ngói hay bằng gỗ đơn sơ, tiếp đến là bình phong nhỏ bằng gạch hoặc bằng cây, rồi mới đến khoảng sân, hồ sen có bông súng hay bể cạn với hòn non bộ ở trên. Cuối sân là ngôi nhà chính ba gian hay năm gian, hai chái. Chung quanh ngôi nhà là vườn cây gồm các cây cảnh, các loại hoa và cây ăn quả phong phú nhiều chủng loại. Khoảng đất phía sau dãy nhà là vườn để trồng rau, chăn nuôi gia cầm.



Nhà vườn Huế là một tác phẩm nghệ thuật có giá trị thẩm mỹ vừa có hiệu quả kinh tế trong sự hài hòa giữa thiên nhiên và cuộc sống. Thú tiêu khiển của người Huế trong ngôi nhà vườn cũng là một nét văn hóa độc đáo. Phổ biến nhất là hòn non bộ với cảnh núi non thu nhỏ, có hang động, có chùa tháp, có suối, có thác, có người và thú vật, tượng trưng cho cảnh sinh hoạt hay sự tích lịch sử, huyền thoại, cổ tích nào đó.

Ở những nhà khá giả, trong nhà thường có bộ trường kỷ, hai bên là tủ chè, sập gụ, có chưng những món đồ cổ quý giá, thậm chí cả những súc trầm chạm chim muông, hoa trái...



Nhà vườn Huế được phân bổ đều khắp trong kinh thành, nội thành và trải dài ra tận các làng quê ngoại ô; bao gồm hai loại hình chính: thứ nhất là phủ đệ của các ông hoàng bà chúa, quan lại, tầng lớp thế gia vọng tộc và giới văn nhân thi sĩ... tập trung chủ yếu ở khu phố cổ Gia Hội, Kim Long, Vĩ Dạ với hàng trăm tòa phủ; thứ hai là nhà vườn của giới trí thức hay tầng lớp trung lưu khá giả trong xã hội trước đây, với hàng ngàn ngôi vườn san sát ở bốn phường trong kinh thành, miệt vườn Kim Long, Bến Ngự, Nam Giao. Nhà vườn Huế vừa có khung cảnh thiên nhiên, thoáng mát, yên tĩnh lại có các quần thể kiến trúc thu hút du khách khi đến tham quan.



Tại Phường Kim Long (thành phố Huế) hiện còn một hệ thống nhà vườn và nhà kiến trúc truyền thống rất độc đáo, một vùng quê thanh bình ngay giữa phố xá đông đúc... Nhiều tour du lịch sinh thái đã được mở tới đây và chiếm được thiện cảm của du khách, nhất là trong các dịp Festival Huế và đặc biệt là Festival Huế 2008. Ngoài ra, Làng cổ Phước Tích - Huế, ngôi làng nằm bên sông Ô Lâu thuộc xã Phong Hòa, huyện Phong Điền cũng đóng góp vào di sản Huế một nét riêng không lẫn nhưng mang đậm kiến trúc nhà rường truyền thống. Hay các khu nhà vườn An Hiên, vườn Lạc Tịnh, từ đường Ngọc Sơn Công chúa..., Huế còn có rất nhiều nhà vườn nổi tiếng như nhà vườn Ý Thảo, Tịnh Gia Viên, cụm nhà vườn. Tất cả đều là điểm tham quan lý tưởng sẽ làm say đắm lòng du khách mỗi lần đến Huế.

Huyền Không Sơn Thượng - chốn thanh bình nơi cửa Phật

Du Lịch Huế - Huế nổi tiếng không chỉ vì là nơi tập trung những đền đài lăng tẩm của các vua triều Nguyễn, nơi có những ngôi chùa, nhà thờ, đền đài nổi danh, nơi có những con người với danh xưng “người Huế trầm mặc”, mà Huế còn nổi tiếng vì có một thiên nhiên tươi đẹp. Có rất nhiều điểm đến ấn tượng ở Huế, tuy nhiên có một khu du lịch sinh thái tuyệt đẹp mà không phải khách tham quan nào cũng biết, đó là chùa Huyền Không Sơn Thượng.



Cách cố đô Huế chừng hơn 10km về hướng Tây, thuộc thôn Đồng Chầm, xã Hương Hồ, huyền Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Để đến được Huyền Không Sơn Thượng , du khách phải đi qua chùa Thiên Mụ, theo con đường dọc sông Hương, qua Văn Thánh, Võ Thánh, qua cầu Xước Dũ, rồi đi khoảng hơn 1km nữa rồi rẽ phải vào thôn Đồng Chầm. Từ đây, đi tiếp chừng 500m, đường này sẽ cắt ngang đường chính Huế, thẳng trước mặt sẽ thấy một cổng làng Văn hóa thôn Đồng Chầm. Qua cổng làng chừng 200m, nhìn bên phải có một tấm biển chỉ dẫn bởi những mốc đá nhỏ ven đường, tuy chỉ là đá đẽo thô mộc nhưng nét bút ghi rõ danh hiệu chùa lại uyển chuyển đến kỳ lạ, đúng theo lối thư pháp quốc ngữ đang thịnh hành. Những mốc đá đôi khi khuất sau lùm cây bụi cỏ, hoặc chơ vơ ngay bên đường, nhưng nếu tinh ý quan sát sẽ thấy chút hơi hướng của tâm hồn thi sĩ đang mở lòng đón bước chân lạ. Theo lộ trình này gần 3km nữa là đến Huyền Không Sơn Thượng. Do đặc điểm địa lý, đồi tiếp đồi nên đường vào chùa uốn lượn quanh co, đường nay đã được cải tạo, nâng cấp khá thuận lợi cho du khách đến tham quan.



Đặt chân đến Huyền Không Sơn Thượng du khách sẽ bắt gặp một không gian thật yên tĩnh, cảnh quan kỳ ảo đẹp như trong chuyện cổ tích. Một cây cầu gỗ bắc qua dòng suối nhỏ nở đầy hoa súng tím ngát đưa khách vào Thanh Tâm Viên, sân trước tòa Phật điện.



Khuôn viên chùa là một khu vườn xanh ngắt với những cảnh quan kỳ ảo, đẹp như trong chuyện cổ tích. Một cây cầu gỗ bắc qua dòng suối nhỏ nở đầy bông súng tím ngát đưa khách bước vào Thanh tâm viên, sân trước toà Phật điện. Những dò hoa phong lan quí hiếm, được chọn trong 500 giỏ lan quý nuôi trồng ở vườn dưới sân chùa, được thay đổi mỗi ngày, với đủ sắc màu rực rỡ, đua sắc, khoe hương. Những cây sứ, thiên tuế, tùng, bách…cổ thụ hàng trăm năm tuổi, điềm đạm xòe những tán lá rậm rạp, ung dung che chở nắng gió cho những khoảng sân và lối đi lát gạch Bát Tràng màu nâu đỏ. Đây đó, dưới bóng những cây tre ngà lao xao, khu rừng trúc um tùm là những bộ bàn ghế để khách nghỉ chân, tận hưởng sự yên ả thanh bình nơi cửa Phật.

Một quần thể kiến trúc rõ ràng là nơi tu hành song được kiến tạo theo phong cách trang nhã với những hình khối nhỏ xinh bằng tranh tre, gợi lên thi hứng hơn là cảm giác u mặc, và những bức thư họa trang trí trong nội thất khiến ta liên tưởng rõ rệt tới một không gian văn hóa cổ điển hơn là sự nghiêm cẩn chùa chiền.



Bản thân ngôi chính điện cũng không dựng theo lối thông thường với tường, vách, cột, bệ thờ… như các chùa vẫn gặp. Chính điện ở đây là ngôi nhà nhỏ, giản dị, mái thấp và đơn sơ vách gió lùa. Tượng Phật đặt chính giữa gian mà có cảm giác lộ thiên, như hòa thân bất hoại vào vũ trụ, toả tinh thần hỷ xả tới mọi tâm linh, để ngay sau khi dâng hương làm lễ, ta đã có cảm giác thân thuộc với từng góc nhà, từng gốc trúc trong sân chùa. Bên trái là nhà đọc sách, bên phải là nhà sinh hoạt, rải rác phía sau là những căn nhà gỗ nhỏ, nơi xướng họa, tiếp khách của nhà chùa, bộ bàn ghế thấp, bình trà nghi ngút hơi và những cái chén nhỏ sạch sẽ, tạo nên một không gian giản dị mà đầm ấm.. Đi qua khu vườn trúc là đến nơi dành cho những người yêu thích văn chương thi phú tìm đến để đàm đạo, bình thơ, ngắm gió trăng mây núi, là nơi các nhà thư pháp tập họp để luyện bút, phô chữ. Có lẽ vì thế, thư pháp hiện diện khắp nơi, khắc trên đá trong vườn, chạm trên gỗ, trang trọng treo trên tường, ghi trên cột cổng tam quan… Đó là những lời Phật dạy, những điều hay lẽ phải răn đời và răn người, là những cảm xúc bất chợt của các cây bút, là những bài thơ của các nhà thơ nổi tiếng. Nơi đây, dưới gốc cây cổ thụ là bức tượng đá nổi tiếng do cố điêu khắc gia Điềm Phùng Thị tạc, gửi tặng chùa một dáng ưu tư của thiền sư trong bóng núi mây ngàn.

Ở phía sau dãy nhà tăng xá là cả một rừng thông cổ thụ rậm rạp trên ốc đảo giữa hồ Hàm Nguyệt Trì. Đây là nơi diễn ra những cuộc triển lãm thư pháp trong thời gian Huế tổ chức Festival. Trên mỗi cây thông có gắn một cái giá bằng gốc tre. Đêm đêm, những chiếc đèn dầu đặt trên đó tỏa ánh sáng mờ ảo, hư hư thực thực, đầy quyến rũ.



Về Huyền Không Sơn Thượng, giữa đất trời bao la, được trải lòng mình ra với thiên nhiên dân dã, để sống thật với chính mình, gạt bỏ những âu lo, phiền muộn.

Theo Bảo Anh

Nguồn: TTVN

Cửu Đỉnh – nét hấp dẫn, độc đáo của Hoàng thành Huế

Du Lịch Huế - Góc Tây Nam của Đại Nội thành Huế (tỉnh Thừa Thiên - Huế), có một quần thể kiến trúc rất độc đáo, hấp dẫn, được du khách nhắc đến tên như một điểm đến không thể thiếu - đó là quần thể di tích Khu miếu thờ, gồm Hiển Lâm Các, Thế Miếu và Cửu Đỉnh.

Các công trình này liên kết với nhau về không gian kiến trúc, về chức năng mỗi công trình, trong một tổng thể cảnh quan hài hòa. Hiền Lâm Các là đài kỷ niệm ghi nhớ công tích các vua triều Nguyễn và các vị đại thần, cao 17m; Thế Tổ Miếu (thường gọi Thế Miếu) là nơi thờ các vị vua, mỗi vị vua một án thờ. Đây cũng là nơi triều đình đến cúng tế các vị vua quá cố…



Cửu Đỉnh trước thềm Hiển Lâm Các

Cửu Đỉnh là tổ hợp 9 chiếc đỉnh bằng đồng, đặt hàng ngang dưới thềm Hiền Lâm Các, đối diện qua sân và tương ứng với 9 gian thờ vua trong Thế Miếu. Trong đó có 1 đỉnh ở giữa hàng, được đặt nhích lên 3m với hàm ý để tôn vinh công lao to lớn của vị vua đầu tiên của triều đại (Gia Long).

Mỗi đỉnh được khắc một tên riêng, là “miếu hiệu” tượng trưng mỗi vịhoàng đế sau khi mất đưa vào thờ tại Thế Miếu, như: Cao Đỉnh- vua Gia Long; Nhân Đỉnh- vua Minh Mạng; Chương Đỉnh- vua Thiệu Trị; Anh Đỉnh- vua Tự Đức; Nghị Đỉnh- vua Kiến Phúc; Thuần Đỉnh- vua Đồng Khánh; Tuyên Đỉnh- vua Khải Định; còn Dụ Đỉnh và Huyền Đỉnh chưa tượng trưng cho vua nào bởi khi Cách mạng tháng Tám thành công đã chấm dứt thời kỳ phong kiến của vương triều nhà Nguyễn, đưa nước ta bước vào trang sử mới.

Trên mỗi đỉnh, người ta đều chạm khắc 17 bức họa tiết và 1 bức họa thư, với các chủ đề về vũ trụ, núi sông, chim thú, sản vật, binh khí… tập hợp thành bức tranh toàn cảnh của đất nước Việt Nam thống nhất thời nhà Nguyễn. Tất cả 153 mảng hình trên Cửu Đỉnh là 153 bức chạm độc lập, hoàn chỉnh, là sự kết hợp điêu luyện giữa nghệ thuật đúc và chạm nổi đồ đồng nước ta hồi đầu thế kỷ XIX.

Cửu Đỉnh được đúc từ cuối năm 1835 và hoàn thành đầu năm 1837. Trải qua các thời kỳ chiến tranh Đông Dương, chiến tranh Việt Nam và giai đoạn suy thoái kinh tế bao cấp (1975-1981), Cửu Đỉnh vẫn còn nguyên vẹn 9 đỉnh và không bị dịch chuyển khỏi vị trí ban đầu.

Giá trị của Cửu Đỉnh trước hết nằm ở tầm vóc to lớn của nó và trình độ đúc đồng tinh xảo của những người thợ thủ công Phường Đúc, Huế. Chiếc cao nhất tới 2,5m, chiếc thấp nhất 2,3m. Chu vi vòng lưng từ 4,64m tới 4,72m. Trọng lượng chiếc nặng nhất 2061kg, chiếc nhẹ nhất 1935kg.

Cửu Đỉnh thực sự là di sản văn hóa quý hiếm,. Dưới góc nhìn lịch sử văn hóa, Cửu Đỉnh là biểu tượng cho sự giàu đẹp, thống nhất giang sơn và ước mơ triều đại bền vững. Đến với Huế hôm nay, du khách vẫn truyền nhau thông điệp từ tổ hợp độc đáo này: “Chưa biết Cửu Đỉnh coi như chưa biết đến Cố đô”.

Theo Nguyễn Bình

Saturday, April 25, 2015

Lộng lẫy đền Huyền Trân

Du Lịch Huế - Tọa lạc trên núi Ngũ Phong nằm cách thành phố Huế bảy cây số về phía tây, đền Huyền Trân được khánh thành ngày 26/3/2007, đúng vào dịp 700 năm Thuận Hóa – Phú Xuân. Từ đó đến nay đền không bao giờ vắng khách viếng thăm, cúng tế. Nhất là những ngày từ mùng 9 đến rằm tháng Giêng hằng năm, ngày giỗ của vị công chúa triều Trần.



Cổng vào đền Huyền Trân

Buổi chiều, dãy núi Ngũ Phong nhuốm màu u tịch, nhìn lên chỉ thấy một màu xanh trải rộng trên cao. Như một người bạn Huế từng nói: Với địa hình thoai thoải, đứng trên đỉnh núi sẽ thấy một vùng không gian thoáng đãng, bao la, xa xa là dòng sông Hương lặng lờ trôi dưới chân núi Ngự, tất cả khiến ta có cảm giác lâng lâng thoát tục như lạc vào tiên cảnh.

Lời nói đó thực không ngoa, mặt trước khu đền hiện ra với bốn trụ biểu cao vút đã cho chúng tôi đúng cảm giác như vậy. Bước qua bốn trụ biểu ấy, con đường vào đền mở ra với một khoảng sân rộng lót bằng gạch Bát Tràng, hai bên là hồ nước trong xanh tạo nên thế phong thủy: Lưng tựa vào núi Ngũ Phong, phía trước là hồ Trường Xuân soi bóng nhật nguyệt, sơn mạch là hai bức tường thành tả hữu hai bên.

Ngôi đền được thiết kế theo kiến trúc đời Trần với một trục thẳng từ cổng vào đến bên trong. Đi hết khoảng sân trước là đến cổng tam quan, bên trong có hai lớp sân lót gạch Bát Tràng nữa mới đến điện thờ chính có ba gian với những bậc thang dẫn lên, ở giữa là một chiếc lư đồng tinh xảo.



Tượng công chúa Huyền Trân

Bước vào điện thờ, du khách sẽ choáng ngợp bởi màu sắc rực rỡ, lộng lẫy của các khảm thờ, bệ thờ và các đồ nội thất. Tất cả đều được chạm khắc những hoa văn, họa tiết tinh vi, đặc biệt là những họa tiết hình rồng uốn lượn, bay bổng.

Bức tượng công chúa Huyền Trân đúc bằng đồng nguyên chất do nghệ nhân phường Đúc của Huế tạo thành cao hơn 2,37m trông thật uy nghi, đường bệ. Trên khảm thờ, hai ngọn đèn hai bên lúc nào cũng tỏa sáng trong chiếc lư bằng đồng đen, khói nhang nghi ngút, thơm ngát hương trầm.

Chánh điện

Từ chánh điện, bước ra khuôn viên phía sau, chúng tôi bị thu hút bởi bức tượng ni sư Hương Tràng bằng đá trắng có khuôn mặt hiền từ, tay lần tràng hạt. Tương truyền sau khi từ đất Chiêm trở về, công chúa Huyền Trân đã quy y và có pháp danh là Hương Tràng.

Hình ảnh của vị công chúa rực rỡ trong chánh điện và vị ni sư thanh thoát, dịu dàng phía sau đã khiến nhiều khách du man mác ngậm ngùi. Càng bâng khuâng hơn khi đi tiếp hơn hai trăm bậc thang giữa hàng thông xanh lên đỉnh Ngũ Phong để đến với tháp chuông Hòa Bình bên trong có quả chuông đồng nặng 1,5 tấn.

Đứng bên tháp chuông, nghĩ đến những buổi sáng, buổi chiều khi tiếng chuông vang lên trong không gian trầm mặc im ắng của núi rừng nơi đây, ai nấy không xúc động. Phía bên phải đền Huyền Trân còn có một tượng Phật Di Lặc bằng đá trắng ngồi giữa thảm hoa cỏ xanh tươi, nụ cười phúc hậu khiến du khách nghe tâm hồn phiêu diêu, thanh thản khi đứng lại ngắm nhìn.

Bậc thang cấp lên đền Trần Nhân Tông

Sau khi viếng đền Huyền Trân, bước lên một bậc thang cấp với hình rồng uốn khúc phía sau, du khách sẽ đến đền thờ Trần Nhân Tông, vị vua anh hùng, phụ hoàng của công chúa Huyền Trân, cũng là vị tổ của phái Trúc Lâm Điều Ngự Giác Hoàng.

Ở điện thờ này có tượng vua Nhân Tông bằng đồng đỏ cùng các bức hoành phi, câu đối ca ngợi công đức của vua. Lại có thiền viện Hương Vân, sơn thần, thủy thần.

Đứng giữa đền Huyền Trân, bên những rặng thông xanh ngắt, sao bên tai cứ văng vẳng điệu Nam Bình của xứ Huế:

Nước non ngàn dặm ra đi
Mối tình chi
Mượn màu son phấn…

Đền Huyền Trân, một trung tâm văn hóa đẹp đẽ chốn núi rừng huyền bí thâm nghiêm, một biểu tượng cho tấm lòng của người dân xứ Huế đối với các bậc tiền nhân có công mở mang bờ cõi xứng đáng là điểm đến cho du khách bốn phương.

Theo CHI LAN

“Đột phá” cùng con cá vẩu

Du Lịch Huế - Đứng trên cầu Tư Hiền, đã nhìn thấy "rừng” lồng nuôi cá vẩu, cá mú san sát của người dân xã Vinh Hiền (Phú Lộc- Thừa Thiên Huế). Giống cá có tên là cá vẩu mới nuôi cách đây vài năm nhưng đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho bà con nông dân.


Anh Việt giới thiệu cá vẩu
Anh Phan Việt (45 tuổi), trú ở thôn Hiền An 1 (xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên- Huế) cho hay, người dân nơi đây bắt dầu nuôi cá vẩu vào năm 2009 từ sự tình cờ trong một lần đi đặt chuôm đánh bắt cá hồng, cá mú tự nhiên về nuôi thì có lẫn con giống cá vẩu. Qua nuôi thể nghiệm trên nước lợ ở đầm phá, người nuôi thấy cá phát triển khá tốt, ít hao hụt và thịt cá ngon, săn chắc, thơm ngọt, được người tiêu dùng ưa chuộng.
Cá vẩu sinh sản ở biển, cá giống con trôi vào đầm phá nhiều nhất là thời điểm tháng 11 âm lịch. Cá vẩu dễ nuôi, chịu được nước ngọt hơn các loại cá chuyên sống môi trường nước lợ, mặn. Thức ăn cho cá vẩu là các loại cá tạp tươi sống, băm nhỏ cho ăn 4-5 lần/ngày trong hai tuần nuôi đầu, sau đó giảm xuống còn 3 lần/ngày. "Từ năm 2009, trung bình mỗi năm tôi thả nuôi 4 lồng với 400 con cá vẩu giống. Sau 12 tháng nuôi cá vẩu cho thu hoạch đạt trọng lượng khoảng 1-1,2 kg/con; bán với giá 200 ngàn đồng/kg thì sau khi trừ chi phí, gia đình tôi lãi ròng mỗi con cá vẩu khoảng 50 ngàn đồng. Với 400 kg cá vẩu thương phẩm gia đình tôi lãi khoảng 20 triệu đồng. Hiện trên địa bàn xã Vinh Hiền có khoảng 30 hộ nuôi cá vẩu mang lại hiệu quả kinh tế cao, không những xóa đói giảm nghèo mà con giúp người dân phát triển kinh tế, nâng cao mức sống…”- anh Việt cho hay.
Trao đổi với chúng tôi, anh Trần Cát ở thôn Tân Bình (xã Lộc Bình, huyện Phú Lộc) cho biết, thấy bà con ở xã Vinh Hiền nuôi cá vẩu mang lại hiệu quả kinh tế cao, năm 2010 gia đình anh vay tiền đầu tư nuôi 100 con cá vẩu. Sau 12 tháng, cho lãi gần 5 triệu đồng. Qua năm sau gia đình anh nuôi 4 lồng cá vẩu với 400 con giống thu lãi ròng khoảng 20 triệu đồng. Ông Châu Ngọc Phi (Trung tâm Khuyến nông - lâm - ngư Thừa Thiên- Huế) cho biết, cá vẩu thuộc họ cá chim trắng, có giá trị kinh tế cao. Để nhân rộng mô hình nuôi cá vẩu lồng, cần phải có thời gian và chiến lược lâu dài, bởi hiện nay nguồn giống chưa chủ động được. Tuy nhiên, thực tế cho thấy loài cá này vẫn là lựa chọn tốt của người nông dân.

Theo Khánh Loan

Friday, April 24, 2015

A Nôr, dải lụa giữa đại ngàn

Du Lịch Huế - Đừng vội vàng rời khỏi miền sơn cước A Lưới (Thừa Thiên- Huế) khi bạn chưa ghé thăm thác A Nôr, một kiệt tác thiên nhiên, như áng tóc trữ tình giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ.



Người đi rẫy dừng chân nghỉ ngơi trên đỉnh thác A Nôr - Ảnh: Tuyết Khoa

Tọa lạc tại xã Hồng Kim, hoang sơ giữa những tảng đá rêu phong, thác A Nôr “trốn mình” giữa non xanh với ba dòng thác liên hoàn nhau. Trên cùng là ngọn thác ngắn nhất và cuối cùng là ngọn thác cao nhất, đổ từ độ cao hơn trăm mét. Phía dưới chân thác là một hồ nước khá rộng. Nước trong xanh, in bóng núi rừng, như một chiếc gương khổng lồ. Du khách có thể bơi lội thỏa thích. Không khí mát lạnh, thoang thoảng mùi hương của những đóa hoa rừng hòa cùng tiếng chim rừng ríu rít khiến du khách thêm phần thư thái, quên hết mệt mỏi. Và sau đó là thưởng thức những đặc sản của vùng đất A Lưới vốn nổi tiếng về văn hóa ẩm thực.

Một trong những trải nghiệm thú vị là hành trình chinh phục con đường rừng để đến với thác A Nôr. Từ đường mòn Hồ Chí Minh, khu khách phải đi bộ gần 2km đường rừng để thỏa sức tắm mình thư giãn. Cuốc bộ dưới những tán cây rừng, dưới chân trải đều cỏ dại hoặc trải đều đá cuội đan xen, vừa đi du khách vừa nghe tiếng thác ào áo lớn dần. Thỉnh thoảng có vài người đi rừng về, mang trên lưng những gùi chuối, ngô, măng…trò chuyện và cười vang bên suối, hình ảnh bình dị ấy tạo cho không ít du khách thích thú và cảm thấy cuộc sống thật nhẹ nhàng.

Chị Hồ Thị Môn, Chủ tịch xã Hồng Kim cho biết: “Hiện nay, khu du lịch sinh thái thác A Nôr đang được đầu tư hệ thống cơ sở vật chất đầy đủ nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách. Đặc biệt là việc hoàn thành chiếc cấu nối liền hai bờ suối, giúp du khách thuận tiện trong việc đi lại. Bên cạnh đó, nơi đây đã hình thành một ngôi làng mới mang tên Việt Tiến, người dân nơi đây đang dần dần từng bước ổn định cuộc sống. Họ sẽ hướng dẫn du khách tham quan thác A Nôr, vừa đón khách lưu trú tại nhà nếu du khách có nhu cầu”.

Thác A Nôr cách thị trấn A Lưới khoảng 2km về phía đông bắc và cách TP.Huế chừng 70km, rất lý tưởng cho du khách thư giãn cuối tuần, nạp năng lượng cho một tuần mới tràn đầy sức sống.

Theo Thanh Bình

Miếu Long Vương làng Phú Xuân

Du Lịch Huế - Tục thờ Long Vương (Thuỷ thần) của người Việt, một tín ngưỡng có nguồn gốc lâu đời của cư dân nông nghiệp, gắn liền với tục thờ thần Rắn, thần Hà Bá với mong muốn mưa thuận gió hoà. Ngày xưa việc sinh cơ lập nghiệp ở chốn sông nước, còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn, rủi ro nên từ vua quan chí thứ dân, thường tin tưởng vào các đấng siêu nhiên phù hộ, trong đó có Thủy thần. Làng Phú Xuân, nay thuộc phường Xuân Phú, TP Huế là một trong những làng còn giữ tục thờ Long Vương ở miếu Long Vương. Đặc biệt, vua Gia Long từng tôn tạo ngôi miếu cổ này và tổ chức tế lễ hằng năm; khi gặp hạn hán thì tổ chức lễ đảo vũ.

Trước năm 1930, miếu Long Vương làng Phú Xuân rất cổ kính, linh thiêng, được dựng trên một khoảnh đất rộng khoảng 600m2, bên bờ sông Thiên Lộc; nếu xuôi thuyền từ Đập Đá theo hướng đông nam khoảng 300m thì đến miếu ở bờ nam của sông. Tương truyền ngôi miếu thuộc khoảnh đất của làng cổ Dương Xuân. Sau khi xây dựng phòng thành Huế, vua Gia Long có lệnh đền bù đất đai cho dân làng Phú Xuân, khoảnh đất có miếu Long Vương của làng Dương Xuân lại nhập vào thôn Xuân An của làng Phú Xuân. Ngôi miếu này có từ thế kỷ 14. Khi vua Gia Long cho đào vét sông Thiên Lộc và đào sông Như Ý thì tạo điều kiện tôn tạo Miếu Long Vương này, hằng năm tế lễ 4 lần vào giữa mùa xuân, hạ, thu, đông. Đại Nam nhất thống chí có chép về lịch sử Miếu Long Vương: “Miếu Nam Hải Long Vương: Ở phía tả cửa biển Thuận An xã Thai Dương huyện Hương Trà, thờ thần Nam Hải Long Vương. Trước kia, miếu ở xã Dương Xuân, huyện Hương Thủy, đầu niên hiệu Gia Long hằng năm tế vào 4 tháng trọng, năm thứ 12 đổi dựng ở chỗ hiện nay…” .



Khúc sông Thiên Lộc (còn gọi là sông Như Ý), bờ phải có miếu Long Vương

Như thế, từ năm 1802, miếu Long Vương này đã biến thành miếu thờ Thủy thần cấp nhà nước, vua Gia Long sắc phong “Long Cung Quảng Vận Đại Vương” , do nhà nước tổ chức tế lễ hằng năm vào tháng giữa của bốn mùa và giao cho các làng Phú Xuân, An Cựu, Vân Dương , Bình Lục và vạn Phao Võng chăm sóc. Năm Gia Long thứ 12, dời miếu Long Vương về Thuận An thì triều đình không còn tổ chức tế lễ ở miếu Long Vương Phú Xuân nữa. Đại Nam thực lục chính biên chép: “Quí Dậu, Gia Long năm thứ 12 [1813]… Mùa hạ tháng 4… Dựng đền thần (năm Minh Mệnh thứ 3, đổi làm miếu Nam Hải Long Vương) và đền Thai Dương phu nhân ở cửa bể Thuận An”.
Dân sở tại, thuộc các làng quanh miếu, vẫn tiếp tục hương khói, thường năm tổ chức tế lễ vào các ngày 22-2 và 5-8 âm lịch. Lần trùng tu muộn nhất là vào thời vua Khải Định, do sự đóng góp công sức của làng Phú Xuân, An Cựu, Vân Dương, Bình Lục và vạn Phao Võng… Trong miếu, ngoài bài vị chính giữa thờ “ Long Cung Quảng Vận Đại Vương” còn có 5 bài vị Thủy thần của 5 làng vừa nêu. Về mặt kiến trúc, ngôi miếu rất bình thường nhưng có một dấu tích đáng chú ý là trong miếu từng có môtip rồng ổ mang phong cách rồng ổ thời Võ vương Nguyễn Phúc Khoát, như ở miếu Ông Ầm trên núi Phụ Ổ. Tiếc thay, khi sửa miếu, thợ “tay ngang” đã làm biến dạng rồng ổ độc đáo này.

Miếu Long Vương làng Phú Xuân là một di tích cổ của làng Phú Xuân và của Cố đô Huế. Thờ Long Vương là một mỹ tục lâu đời của dân tộc Việt, nơi còn dấu tích tập tục cầu mưa của cư dân lúa nước. Tại ngôi miếu này, vua Gia Long từng cử đại thần sắm lễ vật để cầu mưa vào những năm hạn hán mất mùa. Sâu xa hơn, mỹ tục này có từ lâu đời của người Việt, mỗi lần gặp tai ương đều cầu cứu Lạc Long Quân. Nét nổi bật của ngôi miếu này phản ánh nét văn hóa cộng đồng ở Phú Xuân, Thuận Hóa xưa. Điều đáng tiếc là khuôn viên miếu Long Vương làng Phú Xuân hiện nay đã bị thu hẹp, bình đồ miếu chỉ còn khoảng 15m2. Ngày 5/8 năm Quí Tỵ vừa rồi, làng Phú Xuân có tổ chức tế lễ đạm bạc, không còn lệ 5 làng hội tế như xưa nữa. Được biết, hội đồng thất tộc làng Phú Xuân có nguyện vọng tôn tạo miếu Long Vương, phục hồi hội tế, mong các cơ quan hữu trách can thiệp để nới rộng khuôn viên miếu và tôn tạo công trình kiến trúc cổ này.
Theo Lãng Điền

Thursday, April 23, 2015

Nhiều hiện vật giá trị tặng Bảo tàng Lịch sử và Cách mạng TT-Huế

Du Lịch Huế - Bảo tàng Lịch sử và Cách mạng tỉnh Thừa Thiên - Huế hôm nay cho biết, nhân kỷ niệm Ngày Di sản văn hoá Việt Nam (23-11), nhiều tổ chức, đơn vị cá nhân đã hiến tặng nhiều hiện vật có giá trị cho Bảo tàng Lịch sử và Cách mạng tỉnh.

Theo ông Cao Huy Hùng, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử và Cách mạng Thừa Thiên - Huế, những đơn vị đã hiến tặng hiện vật cho bảo tàng lần này là: Đài Phát thanh và Truyền hình Thừa Thiên - Huế trao tặng một máy phát băng cối hiệu Netzstecker Zichen, một máy phát AM 1kw và một máy phát AM (sóng trung) 10kw.

Đây là những thiết bị từng được sử dụng trong kháng chiến chống Mỹ đến năm 2007, kịp thời phát đi các bản tin, kết quả thắng lợi của quân và dân ta trong thời gian diễn ra cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân 1968, những ngày đầu đất nước được giải phóng và thời kỳ xây dựng đất nước sau năm 1975.

Giám đốc Nhà hát Nghệ thuật Ca kịch Huế, NSND Nguyễn Ngọc Bình cũng đã trao tặng văn bản (in và viết bằng tay trên chất liệu giấy) của Ban chấp hành Đảng bộ Liên khu IV gửi Ban Liên lạc đồng hương Thuận Hóa năm 1957 với nội dung: “Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tặng anh chị em công tác văn nghệ Thuận Hóa hai vạn đồng để tu bổ nhạc cụ, giúp phát triển công tác văn nghệ”.

Ngoài ra, còn có nhà sưu tập cổ vật Lê Thiện Gia (TP Huế) hiến tặng bức trướng thêu thủ công tinh xảo, do 34 môn sinh Trường Phú Hòa thực hiện dưới thời vua Bảo Đại (năm 1943).

Dịp này, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thừa Thiên - Huế đã quyết định khen thưởng hai tập thể: Ban Công an xã Phong Sơn và Ban Công an xã Phong Xuân (huyện Phong Điền) cùng ba cá nhân khác ở xã Phong Sơn, gồm: ông Nguyễn Bá Hùng, ông Dương Bình và bà Nguyễn Thị Thương đã có thành tích góp phần thu hồi các hiện vật được phát hiện tại Phong Sơn (Phong Điền) vào tháng 7-2013.

Theo Công Hậu

Bạch Mã – “Ngọn núi ảo ảnh”

Du Lịch Huế - Cao gần 1.500m, núi Bạch Mã từng được nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường ví như “ngọn núi ảo ảnh” – một ngọn núi như ảo ảnh với những huyền thoại từ thiên nhiên đến con người, thấy và gặp rồi, vậy mà định chạm vào thì nó bỗng chốc tan biến.

Đứng trên đỉnh Bạch Mã bạn có thể thu vào tầm mắt cả không gian rộng lớn toàn cảnh đèo Hải Vân, núi Túy Vân, đầm Cầu Hai và cả ánh sáng huyền ảo của Cố đô Huế, thành phố Đà Nẵng lúc đêm về. Ngay trong các căn biệt thự cổ trên đỉnh Bạch Mã, bạn cũng có thể nhìn ra một vùng rừng núi chập chùng và lãng đãng mây, bầu trời lồng lộng và biển mênh mông. Được thiên nhiên ưu đãi, Bạch Mã quanh năm khí hậu mát mẻ, ôn hòa tương tự như Sapa hay Đà Lạt.Bạch Mã là nơi tổng hòa của các vẻ đẹp thiên nhiên: có sự hùng vĩ của núi non, sự bí ẩn của rừng già, sự hoang dã của chim thú, sự hư ảo của mây và sương, sự trong trẻo của suối rừng, sự kỳ vỹ của hơn chục thác nước, sự thơ mộng của muôn loài hoa, sự mênh mang của biển dưới chân núi, sự lồng lộng của trời, sự duyên dáng của cỏ cây hoa lá…








Truyền thuyết kể rằng ngày xửa ngày xưa, các vị tiên thường cưỡi ngựa trắng xuống núi đánh cờ, bởi cảnh trần đẹp chẳng kém chốn bồng lai. Khi các tiên ông ngồi tỉ thí, ngựa mải mê tìm cỏ non tơ. Đợi ngựa không được, các tiên ông phải bay về trời. Đàn ngựa ngơ ngác, lang thang khắp núi, hóa thành những đám mây hệt như ngựa trắng, quanh năm chờ chủ. Tên gọi Bạch Mã bắt nguồn từ đó.




Sau 2 năm đóng cửa Vườn để sửa chữa, con đường lên Bạch Mã bây giờ đã thông suốt, thoáng rộng và được bố trí nhiều điểm hơn để du khách có thể dừng chân ngắm cảnh.



Cánh hoa trải trắng bên đường



Khóm hoa me rừng khoe sắc trong nắng ấm





Bồ công anh mỏng manh theo gió...




Những tia nắng hiếm hoi đi xuyên qua những tán lá là phần thưởng xứng đáng cho những khóm cây dương xỉ



Những cây bông hồng dại được người Pháp mang lên đây trồng trước đây.

Thực hiện: Phi Tân - Minh Tâm